Cần sự liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 22
  • Trong tuần: 2893
  • Tổng cộng: 96961
Cần sự liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp


CẦN SỰ LIÊN THÔNG GIỮA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Thạc sĩ Hồ Sỹ Anh
Nguồn: http://thanhnien.vn/giao-duc/can-lien-thong-giao-duc-pho-thong-va-nghe-nghiep-835466.html

Hiện nay lao động nước ta có tỷ lệ qua đào tạo rất thấp so với nhiều nước trong khu vực, tình trạng này không chỉ làm cho năng suất lao động thấp mà ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Dẫn đến tình trạng này, không chỉ là sự phân luồng HS chưa đạt yêu cầu mà vấn đề ở chỗ chưa có sự liên thông giữa chương trình giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.

Nguy cơ rơi vào “bẫy giáo dục trung bình thấp”

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 01/4/2014 của Tổng cục Thống kê, toàn quốc có tới 82,8% trong số người dân từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, chỉ có 17,2% được qua đào tạo, trong đó, sơ cấp là 1,8%, trung cấp là 5,8%, cao đẳng là 2,6% và đại học là 6,9%. Nếu coi trình độ cao đẳng trở lên là lao động bậc cao, thì cứ 1 lao động bậc cao có 0,8 kỹ thuật viên (sơ cấp, trung cấp) và 8,7 lao động thủ công. Đây là cấu trúc của mô hình phát triển theo chiều rộng đặc trưng cho giai đoạn 1 phát triển dựa vào nhân lực trình độ thấp, tiền công rẻ. 

Nếu Việt Nam chậm chạp chuyển đổi mô hình phát triển giáo dục, tức là vẫn tiếp tục duy trì phổ cập giáo dục trình độ thấp và nâng cao chất lượng của các cấp bậc giáo dục thấp thì nguy cơ xảy ra đối với phát triển đất nước không chỉ là “bẫy thu nhập trung bình” mà cả “bẫy giáo dục trung bình thấp”. Báo cáo chỉ số phát triển con người (HDI) của UNDP năm 2014 cho biết, đến năm 2014 số năm đi học trung bình của dân số Việt Nam là 7,5 năm, thuộc loại ngang bằng với khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thua kém các nước trong khu vực như Malaysia với số năm đi học trung bình là 10 năm, Hàn Quốc là 11,9 năm và Philippin là 8,9 năm . Đáng chú ý là số năm đi học kỳ vọng của Việt Nam là 11,9 năm, thấp hơn mức 12,7 năm của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, thấp hơn 13,1 năm của Trung Quốc, 13,5 năm của Thái Lan và thấp hơn nhiều so với 16,9 năm của Hàn Quốc. 

Mặc dù, từ 2009 đến 2014, tỷ lệ dân số có chuyên môn kỹ thuật tăng từ 13,3% lên 17,2%, nhưng tỷ lệ tăng kỹ thuật viên không đáng kể và lao động bậc cao từ 6% lên 9,5%, với tốc độ bình quân 0,7%/năm là thấp so với nhiều nước. Trong khi tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp THPT là 63,1% và cấp THCS là 88,1%. Với tình hình này, Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn 2 phát triển dựa vào hiệu quả nhưng sẽ rất chậm chạp đạt đến trình độ phát triển hiệu quả nếu xét theo góc độ giáo dục và đào tạo bậc cao.

Đào tạo nguồn nhân lực vẫn chưa hiệu quả

Với cơ cấu trình độ lao động như trên cho thấy rõ, nguồn nhân lực đất nước yếu cả 2 đầu. Về lao động bậc cao, số lượng đào tạo nhiều nhưng cơ cấu ngành nghề và chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế - xã hội, do đó, số người thất nghiệp ngày càng tăng. Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH, đến quý I/2016 cả nước có 225.000 người có trình độ đại học, thạc sĩ thất nghiệp.

Mặt khác, số tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật ở mức quá thấp, nhưng việc phân luồng HS sau THCS kém hiệu quả suốt cả một thời kỳ dài. Chỉ tiêu đặt ra là 30% HS tốt nghiệp THCS vào học nghề và trung cấp đã đặt ra từ lâu, nhưng theo báo cáo của Bộ GD&ĐT thì: Mỗi năm có khoảng 1,2 triệu học sinh tốt nghiệp THCS. Trong đó, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT chiếm hơn 70%; vào học bổ túc THPT hơn 8%; học trung cấp hơn 5%; tham gia vào thị trường lao động khoảng 15%. Đối với THPT, số học sinh tốt nghiệp hằng năm vào học đại học, cao đẳng chiếm khoảng 50%; vào học trung cấp chuyên nghiệp chiếm khoảng 20%; phần còn lại vào học nghề hoặc tham gia thị trường lao động. Số dự thi tốt nghiệp THPT cả phổ thông và giáo dục thường xuyên những năm gần đây trên dưới  1.000.000 HS.

Từ số liệu trên cho thấy, một năm có hơn 500.000 thanh niên bổ sung vào lực lượng lao động quốc gia nhưng không qua đào tạo,  trong đó, có gần 300.000 người gồm những HS không tốt nghiệp THPT, hoặc tốt nghiệp nhưng ra cuộc sống và số bỏ học giữa chừng; khoảng trên 180.000 HS tốt nghiệp THCS đi ra cuộc sống (15% trong số 1,2 triệu HS) và có hàng chục ngàn HS THCS bỏ học mỗi năm. Nếu kể thêm số thanh niên trong độ tuổi THPT và độ tuổi THCS chưa huy động đến trường, thì hằng năm số thanh niên chưa qua đào tạo sẽ cao hơn.

Như vậy, với sự đầu tư của nhà nước và xã hội, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta vẫn chưa hiệu quả. Từ đó, có thể khẳng định rằng|: việc dạy nghề và đào tạo nghề đối với HS THCS và THPT là rất quan trọng. Nhất là đối với các nghề truyền thống và nghề nghiệp mà địa phương có nhu cầu . Việc đào tạo nghề này, một mặt nhằm hướng đến đối tượng HS, vì nhiều lý do khác nhau, phải bỏ học giữa chừng, mặt khác phát triển kỹ năng nghề để một số người sau khi tốt nghiệp đại học có thể khởi nghiệp bằng các nghề truyền thống của quê hương. Một số sinh viên tốt nghiệp đại học phải quay lại học nghề, để kiếm việc làm hoặc học nghề để khởi nghiệp, bởi vì khởi nghiệp phải gắn với một vài sản phẩm hàng hóa nào đó.

Tăng cường phân hóa và hướng nghiệp từ THCS

Chính phủ cũng đã có nhiều giải pháp như miễn phí cho những HS tốt nghiệp THCS tham gia học nghề, miễn phí học nghề đối với các đối tượng khó khăn, con em dân tộc thiểu số, sáp nhập với trung tâm GDTX để trở thành trung tâm giáo dục nghề nghiệp và GDTX của các quận, huyện. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau như xã hội trọng bằng cấp, học trung cấp và nghề thì việc làm và đời sống không đảm bảo. Mặt khác chương trình giáo dục THCS chưa chú trọng đến hướng nghiệp và dạy nghề cho HS.  

Mục tiêu giáo dục THCS là: giúp HS hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động. Trong đó, mục tiêu “tiếp tục học lên THPT”, theo các chuyên gia giáo dục là đảm bảo, còn mục tiêu đi “học nghề” và tham gia cuộc sống lao động chưa thể hiện rõ. Thứ nhất, chưa có sự phân hóa và hướng nghiệp để giúp HS khám phá được năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp để một bộ phận học nghề sau khi tốt nghiệp THCS. Thứ hai, nhà trường không chuẩn bị các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để cho một bộ phận không nhỏ, tham gia cuộc sống lao động.

Vì vậy, theo chúng tôi, môn tích hợp Khoa học tự nhiên và Lịch sử và Địa lý chỉ cần học ở lớp 6 và 7; còn lên lớp 8 và 9 là tách ra thành các môn riêng. Đồng thời, môn Công nghệ và Hướng nghiệp phải tăng cường thực hành các kỹ năng nghề nghiệp theo hướng phân các nhóm ngành như: Canh nông (chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp, nuôi cá), Kinh tế gia đình, Doanh thương và Công kỹ nghệ để các em có thể kiếm sống khi ra đời.

Cần mô hình trường trung học kết hợp

Hiện nay, đối với cấp THPT, hệ thống giáo dục chúng ta đã có trường Trường THPT (thuộc ngành giáo dục), trường Trung cấp, Dạy nghề (thuộc ngành LĐ-TB&XH), và các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (do UBND quận huyện quản lý). Chúng ta chưa có trường Trung học kết hợp (vừa học văn hóa vừa học nghề). Ở Nhật Bản, cấp THPT có 3 loại trường: Trung học Khoa học và Công nghệ, dành riêng cho HS theo hướng lên đại học; Trung học nghề, dành cho HS muốn ra làm việc ngay, và đào tạo với các nghề như Công nghiệp, Kỹ thuật, Đánh bắt cá, Nghệ thuật, tiếng Anh,…; và trường Trung học kết hợp, vừa học văn hóa vừa học nghề. Với mô hình trường học  này, một bộ phận HS sẽ hướng nghiệp lên đại học và một bộ phận khác theo hướng nghề để có thể ra làm việc ngay. Nhờ vậy, mà Nhật Bản là một trong những nước có tỷ lệ HS kiếm được việc làm sau trung thuộc rất cao trong các nước OECD.

Vì vậy, cần phải có sự liên kết thống nhất giữa Bộ GD&ĐT và Bộ LĐ-TB&XH để xây dựng các chương trình học phù hợp, để một trường Trung học phổ thông hiện nay có thể học thêm một số môn nghề và HS tốt nghiệp được cấp chứng chỉ nghề quốc gia. Môn Kính tế và Pháp luật cũng như Thiết kế và Công nghệ nên thiết kế theo phân môn như: Canh nông 10, 11 và 12; Doanh thương 10, 11 và 12, Kỹ nghệ 10, 11 và 12,…để HS có thể theo học một phân môn 3 năm học. Trường trung cấp nghề có chương trình học các môn văn hóa để HS có thể dự xét tốt nghiệp THPT và có thể tiếp tục học lên đại học trong khuôn khổ đại học ứng dụng. Cần đầu tư về đội ngũ và cơ sở vật chất, tăng chỉ tiêu HS vào học các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và GDTX, để trung tâm này trở thành mô hình Trường Trung học kết hợp.

Tất cả UBND các tỉnh, thành phố yêu cầu ngành GD&ĐT và ngành LĐTB&XH phải cân đối nguồn lực để đảm bảo phân luồng 30% sau THCS. Các trường Trung cấp, Cao đẳng nghề, ngoài chính sách hỗ trợ học phí của Nhà nước, cần có nhiều chính sách hỗ trợ khác như chính sách học bổng nhằm thu hút HS giỏi vào học sau THCS. Những HS giỏi này vừa học văn hóa vừa học kỹ thuật chính là nguồn tuyển cho các trường đại học kỹ thuật, để đào tạo ra những kỹ sư giỏi, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội, cạnh tranh quốc tế, phù hợp với cách mạng công nghiệp 4.0.

H.S.A

 

 

 

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>