Chất lượng đào tạo hệ VLVH tại trường ĐH Kinh tế QD: Hạn chế, nguyên nhân và một số đề xuất - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 14
  • Trong tuần: 192
  • Tổng cộng: 81586
Chất lượng đào tạo hệ VLVH tại trường ĐH Kinh tế QD: Hạn chế, nguyên nhân và một số đề xuất


TS. Nguyễn Thị Hoàng
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
(Nguồn: Kỷ yếu hội thảo "Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tại các trường CĐ, ĐH Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Giáo dục tổ chức tháng 12/2013)

Trải qua chặng đường hơn 50 năm xây dựng và phát triển, lĩnh vực đào tạo đại học VLVH (VLVH; trước đây gọi là hệ Tại chức) của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (ĐH KTQD) là một trong lĩnh vực đào tạo quan trọng, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nhà trường cũng như cung cấp nguồn nhân lực cho các bộ, ngành, địa phương trên khắp cả nước (trên 55.000 cử nhân kinh tế và quản trị kinh doanh). Những đóng góp to lớn của lĩnh vực đào tạo đại học VLVH đã được Nhà nước và xã hội đánh giá, thừa nhận trong nhiều năm qua.

Hiện nay lĩnh vực đào tạo đại học VLVH nói chung và của Đại học ĐH KTQD nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức: (i) cạnh tranh trong lĩnh vực đào tạo VLVH; (ii) nhu cầu của người học giảm sút và phân tán; (iii) thị trường đào tạo và tuyển dụng nguồn nhân lực có nhiều diễn biến phức tạp; (iiii) yêu cầu về công tác tuyển sinh, liên kết và công tác quản lý có nhiều thay đổi; (iiiii) chất lượng đào tạo và công tác tổ chức quản lý trong quá trình đào tạo đại học VLVH của các trường đang bộc lộ không ít các hạn chế yếu kém.

Tất cả những thách thức trên đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới lĩnh vực đào tạo đại học VLVH nhằm duy trì, củng cố, nâng cao chất lượng đào tạo, khẳng định vị trí không thể thiếu được của hệ đào tạo này trước nhu cầu xã hội.

Bài viết này xin được đề cập đến một số hạn chế trong chất lượng đào tạo đại học VLVH tại ĐH KTQD, lý giải những nguyên nhân dẫn đến các hạn chế, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của lĩnh vực này ở Đại học ĐH KTQD nói riêng và các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước nói chung.

So với các loại sản phẩm, dịch vụ, đánh giá chất lượng đào tạo là công việc vô cùng phức tạp. Chất lượng đào tạo không chỉ đơn giản được thể hiện qua khả năng đáp ứng người học mà còn được phản ánh qua khả năng đáp ứng đòi hỏi của nhà tuyển dụng, người sử dụng lao động hay của xã hội.

Theo quan niệm thông thường, khả năng đáp ứng người học của dịch vụ đào tạo được biểu hiện tổng quát qua mức độ trưởng thành của người học trước và sau quá trình đào tạo. Mức độ trưởng thành này được đánh giá qua kết quả học tập và rèn luyện của họ. Cũng theo quan niệm thông thường, khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng của dịch vụ đào tạo được thể hiện tổng quát qua mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng đối với năng lực và phẩm chất của lao động đã qua đào tạo. Khả năng này được thể hiện qua một số tiêu chí như: khả năng được tuyển dụng, khả năng hoàn thành tốt công việc, khả năng đề bạt thăng tiến, khả năng tiếp tục học hỏi cao hơn của sinh viên tốt nghiệp.

Trong những năm qua, sinh viên tốt nghiệp ĐH KTQD hệ VLVH có việc làm ngay chiếm tỷ lệ khá cao. Theo kết quả của một cuộc điều tra việc làm của sinh viên trong khuôn khổ Dự án giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo tỷ lệ này đạt mức 88,8%. Nhiều cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức ở trung ương và địa phương đánh giá: sinh viên tốt nghiệp ở Đại học ĐH KTQD có khả năng tư duy độc lập, có kiến thức tổng hợp, có kinh nghiệm chuyên môn vững,  tư cách đạo đức tốt, có khả năng thích ứng nhanh với công việc và có khả năng hoàn thành các công việc được giao tốt hơn sinh viên của nhiều trường khác. (1)

Trong thực tế, nhiều cựu sinh viên của trường đã được đề bạt, bổ nhiệm và giữ các trọng trách trong các doanh nghiệp, cơ quan , tổ chức ở trung ương và các địa phương. Nhiều Bộ, ngành, địa phương chỉ đồng ý cho các cơ sở đào tạo của mình mở lớp đại học VLVH khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh với điều kiện phải liên kết với Trường Đại học ĐH KTQD.

Tuy nhiên, sinh viên của hình thức đào tạo này cũng có nhiều hạn chế so với sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy của Nhà trường: đó là kết quả học tập còn thấp, chưa phản ánh đúng năng lực thực chất, năng lực đảm đương công việc còn hạn chế, mức độ trọng dụng của người sử dụng lao động và của xã hội thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này. Tác giả xin nêu ra một số nguyên nhân sau:

1. Những nguyên nhân

Thứ nhất, chất lượng đầu vào chưa cao

Với tư cách là một dịch vụ, chất lượng đào tạo luôn luôn tuỳ thuộc vào cả hai phía người dạy (hay nói riêng ra là nhà trường) và phía bên kia là người học. Về phía người học, chất lượng đầu vào là một trong những tiêu đề cơ bản quyết định chất lượng đào tạo. Trên thực tế, chất lượng đầu vào của hệ đào tạo đại học VLVH thấp hơn rất nhiều so với hệ chính quy. Bằng chứng là mặc dù đề thi tuyển sinh hệ đào tạo đại học VLVH không khó và không phức tạp bằng đề thi tuyển sinh hệ chính quy nhưng điểm tuyển sinh lại thấp hơn nhiều. Bởi vậy, chất lượng đào tạo của hệ đại học VLVH còn thấp là điều không thể tránh khỏi.

 

Thứ hai, việc tổ chức quá trình đào tạo còn nhiều khiếm khuyết

Điều này được thể hiện trên một số phương diện sau:

- Chương trình đào tạo được thiết kế chưa khoa học và hợp lý. Điểm bất hợp lý lớn nhất của chương trình đào tạo là số lượng các học phần vẫn còn khá nhiều, trong đó có những học phần không thiết thực, ít đem lại lợi ích cho người học, trùng lặp, ít hấp dẫn người học thậm chí chỉ mang tính chất hình thức. Điều đó đã làm cho thời gian đào tạo của khoá học bị kéo dài và làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

- Mặc dù đã đa dạng hoá phương thức đào tạo với 2 dạng cơ bản là định kỳ và ngoài giờ, song vẫn luôn luôn tồn tại sự bất cập: nếu thuận lợi cho người học thì lại rất khó khăn cho việc bố trí sắp xếp cán bộ giảng dạy, ngược lại nếu phương thức đào tạo thuận lợi cho việc sắp xếp cán bộ giảng dạy thì người học lại khó bố trí sắp xếp thời gian tham gia các buổi học tối đa và tối ưu.

- Phương pháp đào tạo về cơ bản vẫn là phương pháp truyền thống, độc thoại, ít tạo hứng thú cho người học và không phù hợp với người học là đối tượng VLVH.

- Việc tổ chức thi cử và đánh giá kết quả đào tạo còn nhiều hạn chế: chưa thật khách quan, chính xác, nhanh chóng kịp thời, thậm chí còn có những biểu hiện tiêu cực, phiền hà, việc cung cấp kết quả chấm thi còn bị chậm trễ kéo dài trong điều kiện nhiều khâu công việc được thực hiện thông qua trung tâm khảo thí của trường; kết quả đánh giá 10% về ý thức học tập của sinh viên hệ đào tạo VLVH là không thiết thực vì không chính xác và mang tính chất hình thức.

Thứ ba, hệ thống học liệu và các cơ sở vật chất khác phục vụ cho quá trình đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu

- Trong hệ thống học liệu, loại học liệu quan trọng nhất là giáo trình vẫn chưa đủ về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng. Cụ thể là: vẫn còn nhiều môn học chưa có giáo trình, hoặc với cách cung cấp giáo trình hiện tại, sinh viên ít có cơ hội được tiếp cận. Không ít giáo trình biên soạn còn sơ sài, nặng về lý thuyết, thiếu kiến thức thực tế hoặc thiếu phần hướng dẫn thực hành và rèn luyện kỹ năng.

- Trong hệ thống cơ sở vật chất, phòng học ở không ít cơ sở liên kết (đơn vị phối hợp đào tạo) vẫn còn thiếu, quy mô chưa đủ lớn để tổ chức các lớp học lớn, trang thiết bị còn thiếu thốn chưa tiện nghi, môi trường sư phạm xung quanh nơi học chưa bảo đảm. Ngoài ra, tại một số địa phương, việc đưa đón, đảm bảo chế độ sinh hoạt ăn uống, nghỉ ngơi cho cán bộ giáo viên của trường đến công tác vẫn chưa được thuận tiện, thậm chí là còn bị phiền hà.

- Việc khai thác và sử dụng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho nhiều khâu của quá trình tổ chức và quản lý đào tạo hệ đại học VLVH vẫn còn bị hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng quản lý, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của giảng dạy và học tập, do đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Thứ tư, kỷ cương trong giảng dạy, quản lý phục vụ và học tập chưa được thực hiện nghiêm minh, thậm chí còn phát sinh những tiêu cực

- Trong giảng dạy, vẫn còn xảy ra tình trạng giáo viên tự động thay đổi kế hoạch, lịch trình giảng dạy làm cho kế hoạch học tập và làm việc của học viên và của lớp học bị cắt xén, kế hoạch đưa đón giáo viên của đơn vị phối hợp đào tạo bị đảo lộn gây phiền hà và lãng phí. Vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa gây được ấn tượng tốt trong phong cách phục vụ và trong giao tiếp ứng xử đối với người học hoặc đối với đơn vị phối hợp đào tạo.

- Trong quản lý/ phục vụ, việc đảm bảo thông tin kịp thời, việc điều hành phối hợp nhiều khâu công việc theo kế hoạch đã định, theo quy định của các bộ phận có liên quan ở trong trường cũng như giữa nhà trường với các đơn vị phối hợp đào tạo vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. Điển hình là: Các khoa/bộ môn vẫn chưa gửi kịp thời (thậm chí là không gửi) bảng phân công giảng dạy các lớp học cho khoa tại chức để thuận lợi cho công tác điều độ kế hoạch giảng dạy. Nhiều giáo viên vẫn chưa sử dụng phiếu xác nhận thực hiện kế hoạch giảng dạy để thuận lợi cho việc quản lý của trường và của đơn vị phối hợp đào tạo. Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận cán bộ, chuyên viên quản lý đào tạo chưa đảm bảo được trình độ chuyên nghiệp trong công việc và chưa gây được ấn tượng tốt về phong cách phục vụ đối với đối tượng người học.

- Trong học tập, còn không ít trường hợp học viên bỏ buổi học, không tham gia đầy đủ giờ lên lớp, đi học muộn, không đầu tư thời gian xứng đáng cho việc học hành, nghiên cứu. Trên thực tế, còn xuất hiện tình trạng học hộ, thi hộ, điểm danh hộ, gian lận trong thi cử, sao chép chuyên đề thực tập... làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và gây bức xúc trong dư luận.

Thứ năm, quy mô đào tạo mất cân đối giữa các chuyên ngành

Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, tác động đến quá trình giảng dạy và quá trình học tập như việc đảm bảo số lượng và chất lượng giáo viên, đảm bảo cơ sở vật chất cho giảng dạy và học tập. Lẽ thông thường, mối quan hệ giữa quy mô (số lượng) và chất lượng là mối quan hệ tỷ lệ nghịch, nên với thực trạng là quy mô đào tạo mất cân đối giữa các chuyên ngành thì việc giữ gìn và đảm bảo chất lượng tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn.

Thứ sáu, chính sách sử dụng cán bộ và cơ chế quản lý đào tạo của nhà nước đang còn nhiều bất cập

Cơ chế quản lý hiện hành của Nhà nước đối với các trường đại học và cao đẳng, (đặc biệt là các trường công lập) đang chịu nhiều trói buộc, bởi vậy khả năng đầu tư để nâng cao chất lượng đào tạo bị nhiều hạn chế (trói buộc lớn nhất là học phí bị khống chế ở mức độ thấp). Trên phương diện khác lại có thể thấy rằng, vì học phí thấp và đầu tư của Nhà nước cho các trường hạn chế nên để đảm bảo khả năng tài chính và thu nhập nhằm củng cố và duy trì hoạt động, các trường bắt buộc phải mở rộng quy mô. Và quy mô lớn sẽ dẫn đến tình trạng không kiểm soát được chất lượng.

Tại Việt Nam, trong chính sách sử dụng cán bộ, chúng ta vẫn chưa chú ý nhiều đến năng lực thực sự của người lao động khi thực hiện quá trình tuyển dụng. Ở nhiều cơ quan, doanh nghiệp (đặc biệt là các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước), "chủ nghĩa bằng cấp" vẫn đang ngự trị. Có thể nói đây là nguyên nhân rất sâu xa của tình trạng "học giả, bằng thật" mà báo chí, dư luận xã hội và thậm chí là các cơ quan chức năng của Nhà nước đã từng nêu và gây nhiều bức xúc.

 Bốn nguyên nhân đầu là nguyên nhân trực tiếp và cụ thể. Nguyên nhân thứ năm và thứ sáu thuộc nhóm nguyên nhân có ảnh hưởng gián tiếp, sâu xa, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo một cách toàn diện và xuyên qua nhiều yếu tố trung gian.

2. Những đề xuất và giải pháp

2.1.  Một số quan điểm tổng quát nhằm nâng cao chất lượng

Tác giả cho rằng quan điểm tổng quát về việc nâng cao chất lượng, đào tạo VLVH là: phải rất coi trọng việc nâng cao chất lượng nhưng không tuyệt đối hoá và không nóng vội, chú ý tương quan giữa chất lượng và quy mô đào tạo, gắn kết vấn đề nâng cao chất lượng với những quy định hiện hành của cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các trường đại học.Coi trọng chất lượng là vấn đề sống còn, quyết định thương hiệu, danh tiếng uy tín và sự trường tồn của nhà trường, song, không giải quyết vấn đề chất lượng một cách biệt lập với tất cả các vấn đề khác có liên quan, không đặt vấn đề nâng cao chất lượng ngay lập tức hoặc chỉ trong một thời gian ngắn. Việc nâng cao chất lượng đào tạo đến đâu phải được xác định trong mối liên hệ chặt chẽ với trình độ, năng lực, xuất phát điểm và điều kiện, hoàn cảnh của học viên là đối tượng vừa làm, vừa học. Theo ý nghĩa này, chất lượng đào tạo chưa thể đòi hỏi ngang bằng với hệ đào tạo chính quy và ngang bằng nhau tuyệt đối đối với mọi đối tượng sinh viên. Đây chính là điểm chú ý đầu tiên khi đề xuất các giải pháp và mục tiêu nâng cao chất lượng của hệ đào tạo này.

Cơ chế quản lý hiện hành của Nhà nước đối với các trường đại học đang còn nhiều bất cập và trói buộc, chẳng hạn như: (1) Học phí thấp và đầu tư của Nhà nước thấp (2) Chương trình đào tạo khó được thay đổi (3) Quyền và khả năng được tự quyết trên nhiều lĩnh vực vẫn còn bị hạn chế. Trong điều kiện đó, chúng ta không thể đặt vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo một cách quá "lạc quan". Nếu quyết định nâng cao chất lượng đào tạo một cách "lạc quan" thì sẽ rơi vào tình trạng "lực bất tòng tâm" không hiện thực và có thể dẫn đến tình trạng phản tác dụng.

Cần hướng tới một chất lượng đào tạo thực sự và toàn diện, thực hiện một cách đồng bộ và có lộ trình.  "Chất lượng thực sự" có nghĩa là thành tích học tập với năng lực thực sự của người học phải nhất quán với nhau. "Chất lượng thực sự" cũng có nghĩa là chất lượng được xã hội, người sử dụng lao động thừa nhận chứ không đơn thuần là thành tích, kết quả, điểm số bài thi. "Chất lượng toàn diện" có nghĩa là không chỉ bao hàm trình độ chuyên môn mà còn phải tính đến bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và những yếu tố nhân văn của sinh viên được đào tạo.

 Việc nâng cao chất lượng đào tạo phải được thực hiện ở mọi khâu của quá trình tổ chức và quản lý đào tạo và phải được phối hợp chặt chẽ với nhau, theo quan điểm quản lý chất lượng ISO hoặc TQM. Ngoài ra, các giải pháp nâng cao chất lượng phải được triển khai từng bước, có trọng tâm, trọng điểm, có trình tự và trật tự rõ ràng. Trước mắt, có thể tập trung nâng cao chất lượng đào tạo của các lớp sinh viên thuộc năm thứ nhất, năm thứ hai và của các lớp sinh viên học tại trường.

2.2. Giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng đào tạo đại học VLVH

 Đổi mới, hoàn thiện công tác tuyển sinh nâng cao chất lượng đầu vào và đảm bảo giữ quy mô đào tạo phù hợp với chiến lược phát triển lĩnh vực đào tạo tại chức của trường, cân đối với các nguồn lực để có điều kiện nâng dần chất lượng đào tạo.

+ Về cơ cấu: (i) Khuyến khích tuyển sinh mở lớp cho các chuyên ngành không "hót" năng lực giảng dạy còn dư thừa hoặc không bị quá căng thẳng, hạn chế bớt việc mở lớp cho những chuyên ngành quá "hót" (ví dụ: kế toán) để giảm tải cho các chuyên ngành này (ii) Đảm bảo cơ cấu mở lớp hợp lý về mặt địa lý giữa các khu vực: tại trường - tại Bộ, ngành -tại các địa phương trên cả nước (iii) không tuyển sinh, mở lớp quá tập trung vào một số nơi.

+ Về đối tượng: Ưu tiên những người đang có việc làm đi học.

 Đổi mới hoàn thiện các khâu thuộc về tổ chức quá trình đào tạo bao gồm hoàn thiện chương trình, phương thức đào tạo; hoàn thiện việc tổ chức thi cử đánh giá kết quả đào tạo và việc tổ chức học lại thi lại

 Mục tiêu cơ bản của việc đổi mới, hoàn thiện chương trình đào tạo là đảm bảo tính khoa học, hợp lý của chương trình, đảm bảo sự thích hợp của chương trình với đối tượng người học và rút bớt tổng thời gian đào tạo của khoá học xuống mức 4-4,5 năm. Rút bớt một số môn học, hoặc thời lượng của một số môn học xét thấy không cần thiết trong khuôn khổ của khối kiến thức mà trường được quyền tự quyết. Để thực hiện việc rút bớt này một cách khách quan, chính xác cần tham khảo thêm ý kiến của cựu sinh viên và các đơn vị sử dụng lao động. Trong mỗi môn học, cần giảm bớt phần trình bày lý thuyết; tăng cường phần thảo luận, thực hành, làm bài tập cũng như cải tiến khâu thực tập tốt nghiệp

Nguyên tắc chung của việc đổi mới là phải đảm bảo sự thuận tiện cho cả hai phía của quá trình đào tạo. Một mặt, phải đảm bảo cho người học có thể sắp xếp và tham gia lịch học đầy đủ nhất và thuận tiện nhất. Mặt khác, cũng phải đảm bảo để các giáo viên có thể bố trí việc đi lại giảng dạy của mình một cách hợp lý, thuận lợi; đồng thời phải đảm bảo để khoá học không bị kéo dài. Trên tinh thần của nguyên tắc đó, ngoài hai phương thức đào tạo định kỳ và ngoài giờ, nên tăng cường áp dụng phương thức bán ngoài giờ nếu có thể.

Đối với công tác thi cử, đánh giá kết quả đào tạo cần tránh hai khuynh hướng cực đoan (i) kết quả đánh giá quá khắt khe, quá chặt chẽ tạo nên sự không công bằng và hàm chứa yếu tố tiêu cực và (ii) kết quả đánh giá mang tính chất "màu hồng", "cảm thông", "nâng đỡ", quá dễ dãi và cũng hàm chứa yếu tố tiêu cực. Tiếp tục duy trì và đảm bảo chế độ đánh giá nhiều lần cho một học phần (tối thiểu là 2 lần) với trọng số thích hợp cho mỗi lần đánh giá. Cải tiến cách ra đề thi, nội dung đề thi và phương pháp chấm thi theo hướng tăng cường sử dụng công nghệ thông tin ở khâu làm bài thi và chấm thi nhằm hạn chế bớt yếu tố chủ quan thiên vị của người đánh giá.

Mỗi học phần cần có một ngân hàng đề thi với quy mô đủ lớn và bao quát được hầu hết nội dung chương trình môn học và được bổ sung cập nhật thường xuyên để đáp ứng kịp thời yêu cầu về đề thi cho các đợt thi (kể cả thi lần 1 và các lần thi lại).

Ngoài ra, cần tăng cường hệ thống học liệu và các cơ sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo, tổ chức thực hiện nghiêm minh kế hoạch giảng dạy học tập hàng năm, hoàn thiện công tác liên kết.

Trong công tác liên kết và hợp tác giữa 2 bên phải được thực hiện trên các nguyên tắc:

- Phân công trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng, tránh cực đoan theo kiểu công việc phó mặc chỉ cho một trong hai bên, hoặc là đổ dồn cho đơn vị chủ trì đào tạo hoặc là khoán trắng cho đơn vị phối hợp đào tạo.

- Duy trì mối quan hệ, sự thông tin 2 chiều, kịp thời giữa 2 bên liên kết về những công việc có liên quan đến việc tổ chức quản lý các lớp học liên kết bằng mọi kênh thông tin.

3. Một số kiến nghị

3.1. Kiến nghị đối với Trường

Để đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo đại học VLVH nói riêng, trường cần phải xây dựng một hệ thống tổ chức đảm bảo chất lượng riêng. Về đại thể hệ thống này bao gồm (i) đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng (iii) Các quy định về chế độ kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo (iii) Các quy định về việc thưởng phạt (kỷ luật) đối với các cá nhân hoặc tập thể về các hành vi có liên quan đến việc đảm bảo chất lượng đào tạo và (iiii) Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, giáo viên, học viên trong việc huy động họ tham gia vào quá trình đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo và cuối cùng là sự đầu tư các nguồn lực cho việc nâng cao chất lượng.

3.2. Kiến nghị đối với Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo

Như đã chỉ ra ở trên, sự  trói buộc của cơ chế quản lý hiện hành của Nhà nước đối với các trường đại học là nguyên nhân cội nguồn, sâu xa ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo đại học VLVH nói riêng của các nhà trường. Bởi vậy để tạo ra một "phông" cơ bản cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, cần phải đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học (đặc biệt là các trường đại học công lập) cần trao cho các trường đại học quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm một cách thật sự. Theo cơ chế này, quyền tự quyết của các trường bao gồm: (i) Tự quyết về quy mô, cơ cấu, đẳng cấp và chất lượng các dịch vụ mà trường sẽ cung cấp cho xã hội (ii) Tự quyết về cách thức tuyển sinh (iii) Tự quyết về tài chính, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền tự quyết về mức học phí phù hợp với chất lượng các dịch vụ, trên cơ sở thoả thuận với người học và đảm bảo khả năng cạnh tranh (iiii) Tự quyết về nhân sự từ định hướng chiến lược đến các vấn đề cụ thể như: tuyển dụng, đào tạo, duy trì, phát triển và đào thải.,.

Chú thích: (1). Số liệu của Khoa Đào tạo Tại chức, Đại học Kinh tế Quốc dân tại Hội nghị Tăng cường liên kết và đổi mới quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Đại học VLVH, Hà Nội, 14/5/2011

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>