ĐẠI HỌC TƯ THỤC Ở CHÂU Á VÀ “TƯ THỤC HÓA” GDĐH - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
CHÀO MỪNG NGÀY QUỐC KHÁNH 2-9
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 10
  • Trong tuần: 2793
  • Tổng cộng: 186967
ĐẠI HỌC TƯ THỤC Ở CHÂU Á VÀ “TƯ THỤC HÓA” GDĐH


Ở những Nhà nước phúc lợi Châu Âu, cho đến gần đây, gần như không có mấy ĐH tư thục, trừ Bỉ, Hà Lan… và một số ĐH tôn giáo. Ở Mỹ, đến giữa thế kỷ thứ 19, ĐH tư thục chiếm đa số nhưng hiện nay số SV trong ĐH tư thục đã giảm còn dưới 25%. Trong khi đó, ĐH tư thục lại phát triển khá mạnh ở những nước đang phát triển. Ở Châu Á, tỷ lệ SV tư thục trong GDĐH của Nhật Bản, Hàn Quốc, Philipine đã đạt đến con số trên dưới 80% và tỷ lệ này hiện nay ở Indonesia là 60% (2001), Malaysia-38% (2000), v.v… Qua đó, có thể rút ra một số nhận xét chung sau đây.

Thứ nhất, ngày nay biên giới giữa công lập và tư thục đã bị xoá mờ, đa số ĐH tư thục đều nhận được tài trợ của Nhà nước , như ở Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ…, ở Ấn độ có trường hợp tài trợ đến 80 – 85%, trong khi đó ĐH công lập ở Hàn Quốc, Việt Nam, Trung Quốc… chỉ nhận khoảng 45-65% kinh phí từ NSNN. Thứ hai, nói chung ĐH tư thục trên thế giới là không vì lợi nhuận, có lẽ trừ một số ít ĐH tư thục mới thành lập gần đây.Ở các nước Châu Á còn có loại ĐH tư thục có mức “lợi nhuận thích hợp” hoặc “vì lợi nhuận một phần” (semi for-profit). Thứ ba, một số nước có nêu vấn đề “tư thục hóa” (privatization), “ĐH vì lợi nhuận” và “doanh nghiệp hóa, tập đoàn hóa” (incorporation) các ĐH công lập như ở Mỹ, Nhật Bản, Malaysia, v.v… nhưng đây luôn là câu chuyện gây ra rất nhiều phản ứng và chống đối. Trên thực tế, ở Nhật và Malaysia, đến nay cũng mới chỉ dừng lại ở mức “doanh nghiệp hóa, tập đoàn hóa” theo nghĩa: trường ĐH là một đơn vị hành chính độc lập không vì lợi nhuận, Nhà nước vẫn là chủ sở hữu, nhưng được quản trị như một doanh nghiệp và hệ thống kế toán như là một công ty tư nhân. “Doanh nghiệp hóa, tập đoàn hóa” không có nghĩa là chuyển sở hữu, là biến trường ĐH thành một công ty cổ phần vì lợi nhuận (đúng hơn là “cực đại lợi nhuận”) như việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước . Thứ tư, nhìn chung, Nhà nước vẫn kiểm soát tương đối chặt chẽ đối với ĐH tư thục, như quota ở Hàn Quốc, phần lớn ĐH tư thục phải có ĐH công lập liên kết như ở Ấn độ, Trung Quốc v.v… Trung Quốc có 1.758 cơ sở GDĐH ngoài công lập (2001) nhưng chỉ có 89 ĐH được thẩm quyền tự mình cấp bằng, 436 ĐH được uỷ nhiệm cấp bằng. Liên bang Nga có 392 ĐH tư thục (2003) nhưng chỉ có khoảng 1/3 được Bộ ĐH công nhận chất lượng. Trong bối cảnh hiện nay, thế giới vẫn rất lo ngại một hiện tượng tạm gọi là “Những cỗ máy cấp bằng” (Degree-mills). Ngay ở Mỹ cũng có hiện tượng này. Thứ năm, trừ một số trường hợp ở Mỹ, Nhật, các trường tôn giáo v.v… đa số cơ sở GDĐH ngoài công lập, đều nằm ở các “tầng cuối” trong “phân tầng” GDĐH của các nước và thường chỉ mở những ngành có chi phí đào tạo thấp hoặc đang là thị hiếu.

 
 

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>