Đào tạo giáo viên Lịch sử THPT ở các trường, khoa Sư phạm Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 13
  • Trong tuần: 192
  • Tổng cộng: 81586
Đào tạo giáo viên Lịch sử THPT ở các trường, khoa Sư phạm Việt Nam - Thực trạng và giải pháp


PGS.TS Ngô Minh Oanh
Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐH Sư phạm Tp.HCM
(Bài viết được trích đăng từ Hội thảo dạy học Lịch sử toàn quốc do Bộ GD&ĐT tổ chức tại Đà Nẵng) 
 
Tình hình chất lượng dạy và học sử hiện nay ở trường phổ thông đã được không ít lần xã hội, báo chí và các nhà giáo dục lịch sử bàn luận. Việc nhận diện một thực trạng dạy học lịch sử, với những điều tra xã hội học thận trọng, công phu và chính xác từ đó tìm ra nguyên nhân, chỉ rỏ trách nhiệm cụ thể và đề xuất những giải pháp là rất cấn thiết và cấp bách. Trong rất nhiều nguyên nhân, thì nguyên nhân về đội ngũ giáo viên dạy sử ở trường phổ thông còn nhiều hạn chế là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Bỡi vì với một nền giáo dục thì “không có một nền giáo dục nào có thể vượt qua được trình độ của đội ngũ giáo viên của nó”. Việc đánh giá một cách nghiêm túc thực trạng đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông và thực trạng đào tạo giáo viên lịch sử ở các trường, khoa sư phạm nhằm rút kinh nghiệm, đề xuất  những định hướng cho việc đào tạo giáo viên lịch sử trong những năm đầu thế kỉ XXI là rất cần thiết.

Xung quanh vấn đề dạy học lịch sử là một vấn đề lớn, trong khuôn khổ có hạn của bài viết này chúng tôi xin đề cập chủ yếu vào chất lượng đội ngũ giáo viên lịch sử, công tác đào tạo giáo viên lịch sử và đề xuất những định hướng đổi mới công tác đào tạo giáo viên lịch sử ở các trường, khoa sư phạm trong bối cảnh hội nhập quốc tế trong những thập niên đầu thế kỉ XXI.

  1. Thực trạng về đội ngũ giáo viên dạy Sử ở trường THPT và công tác đào tạo giáo viên Lịch sử ở các trường, khoa Sư phạm

1.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên Lịch sử ở trường THPT

Về tình trạng đội ngũ giáo viên THPT nói chung hiện nay là: “Đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa yếu… Nhìn chung, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục – đào tạo trong giai đoạn mới.”[1] Theo thống kê của Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN thì hiện nay số giáo viên THPT đáp ứng năng lực yêu cầu về chuyên môn là 80,9 %, đáp ứng yêu cầu về năng lực sư phạm là 78,9 %. Như vậy còn khoảng 20 % số giáo viênTHPT chưa đáp ứng nhu cầu về chuyên môn và năng lực sư phạm [2]. Trong tình hình chung đó, đội ngũ giáo viên lịch sử ở trường THPT như thế nào ? Trên cơ sở những đề tài nghiên cứu gần đây, chúng ta có thể có những đánh giá về chất lượng đội ngũ giáo viên lịch sử ở trường THPT như sau.

Trước hết phải khẳng định là phần lớn đội ngũ giáo viên lịch sử ở trường THPT được đào tạo chính quy, bài bản trong hệ thống các trường đại học sư phạm trên cả nước nên có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng cơ bản yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Trong nhiều năm qua đội ngũ giáo viên lịch sử đã có những đóng góp to lớn vào việc trang bị những tri thức lịch sử cho nhiều thế hệ học sinh, giúp họ bước vào đời với những hiểu biết về lịch sử, truyền thống của dân tộc và thế giới. Nhiều thầy, cô giáo dạy giỏi môn lịch sử đã làm cho học sinh không những nắm vững kiến thức một cách vững chắc mà còn yêu mến môn lịch sử. Đội ngũ giáo viên dạy sử đã góp phần giáo dục toàn diện học sinh và đóng góp vào sự nghiệp phát triển giáo dục của nước nhà. Bên cạnh những ưu điểm nói trên, giáo viên lịch sử hiện nay cũng còn những hạn chế cần phải nhận diện và khắc phục.

 Về trình  độ chuyên môn 

Những kiến thức được trang bị khi còn là sinh viên trong trường đại học  chỉ là những kiến thức cơ bản so với biển kiến thức mênh mông của khoa học lịch sử. Hiện nay đội ngũ giáo viên lịch sử ở các trường phổ thông chủ yếu là những giáo viên ra trường nhiều năm nên không cập nhật kịp thời kiến thức mới và phương pháp mới để đáp ứng yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa. Công tác bồi dưỡng thường xuyên hiện nay còn hình thức và kém hiệu quả, do đó việc nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên còn hạn chế [3].

Về năng lực sư phạm

Hai nội dung hiện giáo viên lịch sử phổ thông đang yếu là :

1. Sự thành thạo nghề nghiệp với khả năng tiếp cận và sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, trên cơ sở hiểu biết một cách sâu sắc cơ sở triết học và tâm lý, giáo dục của các phương pháp và kĩ thuật dạy học mà mình vận dụng.

2. Khả năng dạy học liên môn : Bộ môn lịch sử là một bộ môn với nhiều kiến thức tổng hợp, nên khi truyền đạt kiến thức giáo viên cũng phải biết được kiến thức và phương pháp các môn học liên quan như văn học, địa lý, kinh tế, các môn nghệ thuật…

Phương pháp giảng dạy phần lớn của giáo viên vẫn là trình bày miệng, thầy giảng trò ghi. Phần lớn giáo viên ít sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học, thậm chí có khoảng vài phần trăm giáo viên hoàn toàn không sử dụng. Khả năng sử dụng tin học để soạn và giảng bài lịch sử bằng giáo án điện tử còn hạn chế hơn. Thực tế giáo viên chỉ chăm chút cho bài giảng khi có dự giờ hoặc thanh tra, còn giờ bình thường thì vẫn giảng theo phương pháp cũ.

        Trong điều kiện chương trình và sách giáo khoa lịch sử phổ thông trung học vẫn còn nặng nề thì người giáo viên chưa thực sự và thường xuyên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của học sinh, chưa làm tốt vai là cầu nối, là một “bộ lọc” quyết định để chuyển tải những nội dung trong chương trình, sách giáo khoa đến học sinh một cách tốt nhất, hạn chế được những khiếm khuyết mà chương trình và sách giáo khoa nào cũng không tránh khỏi.

 Khả năng tự bồi dưỡng nâng cao trình độ

Khi đời sống còn chật vật, giáo viên còn bị “cột chặt” vào lịch trình giảng dạy, khi mà sách, tài liệu tham khảo không phải giáo viên nào cũng có thể kiếm được, nhất là ở vùng sâu vùng xa thì việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ là một thách thức lớn đối với đội ngũ giáo viên. Nếu có ý thức học tập nâng cao trình độ, các thầy cô công tác ở thành phố và thị xã thì việc tự bồi dưỡng có thuận lợi hơn so với các thầy cô công tác ở nông thôn, miền núi, hải đảo. Ngay cả trong điều kiện ở thành phố thị xã, khi sách tham khảo không còn khan hiếm như trước đây thì với đồng lương ít ỏi của giáo viên dạy sử mà giá sách thì đắt, cũng là một thách thức lớn đối với các thầy cô giáo[4]. Khả năng sử dụng ngoại ngữ cho chuyên môn, khả năng nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học giáo dục còn rất hạn chế. Khả năng học sau đại học cũng hạn chế.[5] Các trường phổ thông chưa chú ý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên, trong lúc đó việc dạy học lịch sử cần phải có những hiểu biết liên quan đến nhiều bộ môn mới đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của việc dạy học lịch sử.

Khả năng tổ chức kiểm tra đánh giá còn hạn chế  

Đánh giá chất lượng dạy học bộ môn là một công việc quan trọng và cần thiết. Trong tình hình hiện nay bên cạnh những quy định và cách thức  kiểm tra, đánh giá còn nhiều điều bất cập, thì năng lực ra đề, tổ chức kiểm tra đánh giá của giáo viên cũng còn những hạn chế. Cách ra đề thi theo kiểu hỏi những vấn đề vụn vặt, chỉ yêu cầu học thuộc, kiểm tra đối phó, chạy theo thành tích… là những nguyên nhân dẫn đến làm giảm sút chất lượng dạy học bộ môn[6].

     Thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện

      Ngoài ra, bên cạnh việc dạy chữ thì nhiệm vụ dạy người cũng là một yêu cầu quan trọng. Bản thân chương trình và sách giáo khoa không thể làm tốt chức năng giáo dục nếu không có người thầy. Với nhân cách của mình, bằng tấm lòng nhân ái người thầy sẽ trực tiếp nêu gương, thông qua dạy chữ để giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh noi theo. Hiện nay nhiều giáo viên quan niệm chỉ lo dạy chữ là công việc chủ yếu, ít chú trọng đến việc dạy người, trong lúc môn lịch sử rất cần khai thác và có đủ điều kiện để giáo dục học sinh một cách toàn diện.   

    Hạn chế về hoạt động xã hội

    Hoạt động xã hội cũng là một hoạt động rất quan trọng để giáo viên lịch sử gắn hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học của mình với địa phương, góp phần với nhà trường nối kết nhà trường với xã hội và phát huy vai trò là trung tâm văn hóa, giáo dục của nhà trường với địa phương. Thực tế hiện nay không ít giáo viên trong giảng dạy lịch sử chỉ chạy theo chương trình và sách giáo khoa, lo đối phó với thi cử, thi đua. Giáo viên không có khả năng hoặc không có những điều kiện cần thiết để tổ chức hoạt động ngoại khóa, hướng dẫn học sinh thực hành và tham gia các họat động xã hội. Thực tế đó làm ảnh hưởng nhất định đến chất lượng dạy học lịch sử.

        Như vậy, người giáo viên lịch sử phải là một “người thầy giáo uyên thâm về kiến thức, có tay nghề dạy học cao, mẫu mực về nhân cách” không lo lắng về đời sống hằng ngày, chuyên tâm cho nghề nghiệp thì đó vừa là tiêu chuẩn và cũng là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục. Nếu đội ngũ nhà giáo đáp ứng được những yêu cầu nói trên thì chắc chắn họ sẽ làm tốt công việc của mình, chất lượng giáo dục lịch sử sẽ được nâng lên. 

       Do nhiều lý do, hiện nay giáo viên rất ngại và thiếu động lực để đổi mới, mặc dù không phải tất cả đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông thiếu nhiệt tình và thiếu năng lực, mà có nguyên nhân khách quan về chế độ, chính sách của nhà nước đối với giáo viên còn nhiều bất cập và có cả nguyên nhân chủ quan về trình độ, năng lực của giáo viên.

     Vì vậy, theo chúng tôi, khâu đột phá vào đổi mới giáo dục phổ thông  phải bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng và động lực làm việc của đội ngũ giáo viên, bằng việc thay đổi một số chế độ, chính sách đối với đội ngũ này. Và trong trách nhiệm, khả năng của mình các trường, khoa sư phạm phải đổi mới công tác đào tạo giáo viên lịch sử.

1.2 Thực trạng công tác đào tạo giáo viên Lịch sử THPT ở các trường, khoa Sư phạm hiện nay

       Hiện nay cả nước 133 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo trên cả nước, trong đó có khoảng 20 trường, khoa sư phạm đào tạo giáo viên lịch sử trung học phổ thông. Trong nhiều năm qua, từ những trường, khoa đào tạo lâu đời nhất như Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Vinh, Đại học Thái Nguyên đến các trường, khoa ra đời sau ngày giải phóng miền Nam như Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Đại học Sư phạm Huế, Đại học Sư phạm Quy Nhơn và những trường, khoa mới ra đời gần đây như Đại học An Giang, Đại học Đồng Tháp… đã đào tạo cho các trường phổ thông hàng chục ngàn giáo viên lịch sử. Cùng với những thăng trầm của ngành sư phạm, có lúc công tác tuyển sinh, đào tạo giáo viên lịch sử gặp nhiều khó khăn, có lúc (cách đây độ 7 đến 10 năm) điểm đầu vào môn lịch sử rất cao, có năm điểm cao hơn các ngành tuyển sinh khối C khác.   

      Trong nhiều nguyên nhân làm hạn chế năng lực của đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông hiện nay không phải không có nguyên nhân từ công tác đào tạo giáo viên ở các trường, khoa sư phạm. Có thể tóm lược một số điểm còn bất cập trong công tác đào tạo giáo viên lịch sử hiện nay ở phần lớn ở các trường, khoa như sau.

1.2.1 Chất lượng tuyển sinh đầu vào ngày càng thấp

        Tình hình tuyển sinh đầu vào ở các trường sư phạm, nơi đào tạo những giáo viên tương lai trong những năm gần đây ngày càng có ít thí sinh dự thi. Thí sinh không “mặn mà” với ngành sư phạm. Trong hoàn cảnh chung đó, tình hình tuyển sinh đầu vào của ngành sư phạm lịch sử cũng không sáng sủa gì. Bên cạnh điểm chuẩn đầu vào ngày càng thấp, thì chỉ có con em những vùng khó khăn, vùng nông thôn thì mới thi vào học ngành lịch sử. Ở khoa Sử trường Đại học sư phạm thành phố Hồ chí Minh trong nhiều năm, sinh viên chỉ là từ các tỉnh xa đến học, con số sinh viên có hộ khẩu tại thành phố gần như không có. Điều đó nói lên một điều là con em những gia đình có điều kiện không vào học ngành sử.

1.2.2 Đội ngũ giảng viên còn nhiều bất cập

     Thực tiễn đào tạo cho thấy, dù ở cấp, bậc học nào, trình độ và năng lực của đội giáo viên vẫn đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo. Theo khảo sát của chúng tôi, thực trạng đội ngũ giảng viên các khoa, trường đào tạo giáo viên lịch sử hiện nay, ngoài một số khoa có đội ngũ giảng viên mạnh như khoa Sử Đại học sư phạm Hà Nội, một số khoa có đội ngũ trung bình so với yêu cầu nhiệm vụ đào tạo giáo viên, còn lại các khoa của các trường còn lại chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo theo yêu cầu chuẩn hoá của công tác đào tạo giáo viên.

TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LỊCH SỬ Ở CÁC TRUỜNG, KHOA SƯ PHẠM

 

Trường, Khoa

Đội ngũ giảng viên

Cơ sở vật chất

Tổng số GV

GS, PGS

TS

ThS

CN

GV PPDHLS

Thư viện

P. BM

Khoa Sử ĐHSP Hà Nội

40

2GS

7PGS

11

19

1

9

Thư viện

Khoa Sử ĐHSP Hà Nội 2

16

0

1

10

5

3

Tủ sách

Chưa

Khoa Sử ĐHSP, ĐH Huế

21

4PGS

5

11

1

5

Tủ sách

 

Khoa Sử ĐHSP, ĐH Đà Nẵng

10

0

1

7

2

3

Tủ sách

 

Khoa Sử ĐH Qui Nhơn

22

0

7

15

0

3

Tủ sách

 

Khoa Sử ĐHSP, ĐHThái Nguyên

17

0

4

9

4

6

Tủ sách

 

K. Sử ĐHSP.TP Hồ Chí Minh

18

1PGS

8

7

2

2

Tủ sách

 

K. Sư phạm Xã hội, ĐH Sài Gòn

7

0

2

5

0

2(kiêm nhiệm)

 

 

ĐH Đồng Tháp

10

0

1

9

0

3

 

P.tư liệu

ĐH An Giang

9

0

1

4

4

2

 

 

ĐH Cần Thơ

11

0

0

5

6

3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn:Từ Vebsite của các trường SP,các khoa Sử và từ khảo sát thực tế.

Nhìn vào bảng thống kê trên đây, chúng ta thấy:

     1. Số giảng viên có học hàm học vị còn ít, phần lớn giảng viên dừng lại ở trình độ thạc sĩ, một số đang còn cử nhân (không kể những giảng viên mới được giử lại trường).

      2. Do nhiều nguyên nhân, họat động nghiên cứu khoa học của giảng viên cũng còn hạn chế, số giảng viên có bài báo khoa học có chất lượng được đăng trên tạp chí chuyên ngành uy ín rất ít, môt số giảng viên chỉ được vài ba bài viết trong các hội nghị, hội thảo không mấy uy tín, cá biệt có một số giảng viên không có bài báo nào. Còn việc viết sách và giáo trình thì còn hạn chế hơn. Số người có sách và giáo trình giảng dạy có thể đếm trên đầu ngón tay.

      3. Phần lớn giảng viên có biết ngoại ngữ nhưng không sử dụng được hoặc sử dụng không thành thạo. Đây là một rào cản rất lớn cho việc nâng cao trình độ và cập nhật tri thức mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

     4. Sự phân bố không đều về số lượng và chất lượng giữa giảng viên dạy khoa học cơ bản với giảng viên dạy bộ môn phương pháp dạy học lịch sử và nghiệp vụ sư phạm. Giảng viên bộ môn lý luận và phương pháp dạy học lịch sử, trừ một số khoa mạnh như khoa Sử đại học sư phạm Hà Nội, khoa Sử Đại học Sư phạn Huế, Vinh, Quy Nhơn, còn lại ở các khoa lịch sử ở các trường còn lại, đội ngũ còn rất mỏng về số lượng và chất lượng. Số giáo sư, phó giáo sư đầu ngành về phương pháp dạy học lịch sử còn quá ít, chủ yếu là tập trung ở Đại học sư phạm Hà Nội  

TÌNH HÌNH GIẢNG VIÊN VÀ SỐ LƯỢNG TÌN CHỈ CÁC MÔN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

 

 

Trường, Khoa

GV

Bộ môn PPDH LS

Sồ lượng tín chỉ các môn Nghiệp vụ SP

Giáo học pháp đại cương và Chuyên đề PP

Rèn luyện NV

Thực tập SP

K.Sử ĐHSP Hà Nội

9

11

4

6

K.Sử ĐHSP Hà Nội 2

3

 

 

 

K. Sử ĐHSP Huế

5

17

5

6

K.Sử ĐHSPĐàNẵng

3

5

4

6

K.Sử ĐHQuiNhơn

3

 

 

 

K.Sử ĐHSPTháiNguyên

6

 

 

 

K.Sử ĐHSP.TPHCM

2

15

5

6

NgànhSử,KhoaSưphạm Xã hội, ĐH Sài Gòn

2

8

5

10

Bộ môn Sử, Khoa Giáo dục Chính trị, ĐH Đồng Tháp

3

 

 

 

Bộ môn Sử, Khoa SP, ĐH An Giang

2

6

2

7

Bộ môn Sử, Khoa SP, ĐH Cần Thơ

3

6

3

5

 

Nguồn: Từ Vebsite các trường SP, các khoa Sử  và từ khảo sát thực tế.

       Nhìn vào bảng thống kê trên đây, chúng ta thấy ở một trường đào tạo nghề mà đội ngũ những người làm công việc đào tạo nghề lại quá mỏng. Một số trường, khoa giảng viên dạy các môn học thuộc lý luận dạy học bộ môn và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn thiếu, một số khoa giảng viên các bộ môn khác trong khoa phải kiêm nhiệm. Nếu so sánh các tổ bộ môn khác trong khoa lịch sử, thì bộ môn phương pháp là bộ môn có phần yếu hơn cả về số lượng và chất lượng.

1.2.3 Chương trình đào tạo chưa cân đối và hợp lý                                                              

     Hiện nay, việc xây dựng chương trình đã được Bộ Giáo dục – Đào tạo quy định chương trình khung. Trên cơ sở đó, các khoa sử xây dựng chương trình tùy theo tình hình đặc điểm và khả năng của khoa mình. Tuy nhiên không phải khoa nào và lúc nào cũng có quan niệm thống nhất về việc xây dựng chương trình khi bố trí khối lượng các nhóm môn và các môn học c

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>