Giáo dục gia đình VN trước bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 18
  • Trong tuần: 193
  • Tổng cộng: 81587
Giáo dục gia đình VN trước bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục


ThS.Hồ Sỹ Anh

Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo & Bồi dưỡng giáo viên – Viện NCGD

(Bài viết đã đăng trên Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số tháng 3-2014)

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vai trò phụ huynh và nền giáo dục gia đình luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực cho trẻ, góp phần cùng nhà trường và xã hội đào tạo nên những công dân tương lai làm chủ đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi nhanh chóng của kinh tế, xã hội đã làm cho nền giáo dục gia đình thay đổi, nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường dẫn đến một số vấn đề bất cập đối với giáo dục gia đình Việt Nam hiện nay. Bài viết này tìm hiểu về vai trò của giáo dục gia đình, nguyên nhân của những bất cập và đề xuất giải pháp hiệu quả giáo dục gia đình theo quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

  1. Tầm quan trọng của việc giáo dục gia đình

Giá trị con người gắn liền với đời sống gia đình và hoàn cảnh xã hội. Gia đình là nơi con trẻ mang tiếng khóc ban đầu, sự giáo dục trong gia đình thời thơ ấu sẽ mang lại sẽ ảnh hưởng sâu xa đến sự hoàn thiện nhân cách một con người sau này. Lịch sử và thực tiễn cho thấy một cá nhân xuất chúng không phải phụ thuộc hoàn toàn vào một mình yếu tố gia đình, nhưng yếu tố gia đình rất quan trọng. Đứa trẻ sẽ trở thành một người lớn bình thường khi nó đã sống bình thường đời sống trẻ con của nó. Vì vậy, khi được sống trong những gia đình thuần hậu, gia đình gương mẫu, không bị sứt mẽ về yếu tố tinh thần cũng như vật chất, trẻ em sẽ trở thành một người lớn bình thường. Trái lại nếu trong đời sống gia đình đứa trẻ bị thiếu thốn về vật chất và nhất là tinh thần, những yếu tố đó sẽ có thể là nguyên nhân đầu tiên để đứa trẻ sau này trở thành một người người lớn khác thường. Một nghiên cứu mới đây của TS. Nguyễn Minh Đức, Học viện Cảnh sát nhân dân cho thấy: “Sinh ra trong những gia đình không lành mạnh, trình độ học vấn thấp, không có việc làm hoặc việc làm không ổn định, tác động của phim ảnh, Game online có nội dung bạo lực… là những nguyên nhân cơ bản làm gia tăng tội phạm giết người”. Lịch sử đã chứng minh, những thiên tài, hay bậc vĩ nhân thường sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống và được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương của cha mẹ. Thật vậy, nhạc sĩ trứ danh Mozart sẽ chẳng phải là một Mozart nếu ông sinh trưởng trong một gia đình không có sự yêu thương, dạy dỗ âm nhạc của cha và chị gái; một Mạnh Tử sẽ chẳng trở thành một hiền triết nếu không ấp ủ trong một nền giáo dục lý tưởng của Mạnh mẫu; Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ không trở thành một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một Danh nhân văn hóa thế giới, nếu Người không được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước và được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương của cha mẹ.

  1. Giáo dục gia đình Việt Nam hiện nay

Cách đây hơn 20, 30 năm trước, hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh, nền giáo dục nước nhà lúc đó đứng trước bối cảnh đổi mới để thống nhất và theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, ở miền Bắc cũng như miền Nam, tàn dư của lối giáo dục phong kiến vẫn còn. Giáo dục gia đình lúc đó có thể chia ra 3 cách, đó là: (1) Cách giáo dục gia đình của phụ huynh chịu ảnh hưởng của nho giáo. Lối giáo dục này có ưu điểm là tạo được một nếp gia đình gương mẫu, nhữn người cha mẫu mực, những người mẹ chịu thương chịu khó và những người con hiếu thảo. Tuy nhiên lối giáo dục này có khuyết điểm là chỉ chú trọng đến phần đức dục, trọng nam, khinh nữ, mà bỏ rơi thể dục, hoạt động giải trí, đứa trẻ không phát triển toàn diện được; (2) Cách giáo dục gia đình của phụ huynh chịu ảnh hưởng của nho giáo và hiện đại theo giáo dục mới dân chủ, bình đẳng giữa nam và nữ, cha mẹ tôn trọng con cái hơn. Nhóm gia đình này ngày càng đông bao gồm cán bộ, công chức, những người theo kháng chiến trở về, những học thức và cả những gia đình công nhân, lao động nhưng tiếp cận với nền giáo dục mới; (3) Cách giáo dục của phụ huynh không theo một đường lối nào. Nhóm gia đình này chiếm đa số, họ thường phó mặc con em cho nhà trường. Không lưu tâm đến việc dạy dỗ con cái. Hoặc dạy con cái không đúng phương pháp, có khi phản tác dụng giáo dục.

  1. Phân loại mô hình giáo dục gia đình theo quan điểm hiện đại

Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội và đặc biệt là hội nhập quốc tế, quy mô gia đình nhỏ hơn, cơ hội học của người dân cao hơn đã làm thay đổi nền giáo dục của gia đình. Sự ảnh hưởng của ông bà đến việc giáo dục con cháu giảm đi nhiều, do xu hướng con cái thường ở riêng sau khi lập gia đình. Theo các nhà tâm lý và giáo dục học hiện đại, hiện nay trong xã hội có 4 mô hình giáo dục gia đình, và cũng chính là mô hình giáo dục của cha mẹ, đó là: cha mẹ độc đoán, cha mẹ dân chủ nghiêm minh, cha mẹ dễ dãi nuông chiều và cha mẹ thờ ơ không quan tâm (Diana Baumrind).

2.1.1.     Mô hình giáo dục gia đình độc đoán

Trong mô hình này quyền lực thuộc về cha mẹ, các con không được cải cha mẹ, sử dụng hình phạt nặng khi con không vâng lời, đòi hỏi nhiều nhưng ít đáp ứng yêu cầu và không quan tâm đến nhu cầu đa dạng của trẻ. Đặc điểm cơ bản của mô hình này là yêu thương, quan tâm ít nhưng mong đợi và kiểm soát về hành vi lại nhiều.

Nghiên cứu mối liên hệ giữa giáo dục độc đoán và phát triển về mặt tinh thần của trẻ, cho thấy, về lương tâm: chỉ số đo về lương tâm thấp; về nhận thức bản thân: lòng tự trọng thấp, trọng tâm là kiểm soát ngoài, giáo dục độc đoán là yếu tố tiêu cực đối với sự phát triển lòng tự trọng của trẻ. Về bạo lực: mức độ bạo lực của trẻ trong môi trường giáo dục độc đoán cao hơn mức trung bình. Giáo dục gia đình độc đoán sẽ dẫn đến một số hậu quả, đó là: trẻ thiếu năng lực xã hội, trẻ có xu hướng rút lui, thiếu tính khởi xướng và tự phát; kém về ý thức lương tâm. Nếu trẻ em trai sẽ thấp về động lực để đạt được mức cao về trí tuệ.

Nhóm gia đình theo đường lối giáo dục độc đoán ngày càng ít, tập trung ở những người thiếu hiểu biết về xã hội và giáo dục.

2.1.2.     Mô hình giáo dục gia đình dân chủ - nghiêm minh

Trong mô hình này cha mẹ mong muốn cách cư xử trưởng thành nơi trẻ và đặt ra những chuẩn mực rõ ràng; cương quyết tôn trọng các quy tắc, chuẩn mực đề ra, đặt ra kỷ luật và giới hạn cho trẻ; khuyến khích trẻ độc lập và phát triển cá nhân; trong gia đình có sự trao đổi cởi mở với trẻ, cha mẹ tôn trọng quan điểm riên của con; nhìn nhận một cách đầy đủ quyền lợi của cha mẹ và con cái.

Như vậy, đối với gia đình giáo dục theo mô hình dân chủ - nghiêm minh, thường mong đợi và kiểm soát về hành vi nhiều và yêu thương, quan tâm đến con cái cũng nhiều.

Nghiên cứu mối liên hệ giữa cha mẹ dân chủ - nghiêm minh và lòng tự trọng của trẻ, cho thấy: cha mẹ đặt chuẩn mực cao về năng lực và vâng lời, cương quyết theo chuẩn mực đó; sử dụng phương pháp quy nạp, thuyết phục thay vì áp đặt, sử dụng phương pháp kỷ luật tự giác; trẻ em có thể tham gia thảo luận các quan điểm của gia đình hay trao đổi với cha mẹ về quan điểm riêng của mình; trong gia đình có sự đối xử công bình và hợp lý. Kết quả trong những gia đình này trẻ em có lòng tự trọng cao.

Nhóm gia đình theo đường lối dân chủ - nghiêm minh ngày càng nhiều là tầng lớp gia đình cán bộ, công chức, viên chức, lao động trong doanh nghiệp hay khu vực nông thôn nhưng có điều kiện đầu tư cho con cái học hành.

2.1.3.     Mô hình giáo dục gia đình dễ dãi – nuông chiều

Trong mô hình giáo dục này, cha mẹ dễ dãi theo ý của trẻ, ít hình phạt và không thể hiện quyền uy; ít đòi hỏi trẻ hành xử chín chắn, cho phép trẻ làm theo ý muốn; ít luật lệ quy định trong gia đình. Như vậy, trong mô hình này, sự mong đợi và kiểm soát về hành vi ít nhưng yêu thương và quan tâm nhiều.

Mối liên hệ giữa mô hình giáo dục dễ dãi – nuông chiều và sự phát triển của trẻ: trong mô hình này trẻ em thường thiếu chín chắn, không kiểm soát được sự nông nỗi, thiếu tự chủ, thiếu trách nhiệm xã hội, thiếu độc lập sáng tạo, động lực làm việc. Mặt khác, bạo lực và tệ nạ xã hội trẻ em trong những gia đình này gia tăng.

Nhóm gia đình theo mô hình giáo dục dễ dãi – nuông chiều tập trung ở những gia đình có điều kiện kinh tế, nhưng không có thời gian chăm sóc con cái, những gia đình mà việc kiếm tiền dễ dàng không phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt nhiều”.

2.1.4.     Mô hình giáo dục gia đình thờ ơ không quan tâm

Trong mô hình này cha mẹ không quan tâm đến giáo dục con cái, phó mặc cho nhà trường hoặc ngoài xã hội; không quan tâm đến các nhu cầu của trẻ. Trong mô hình này yêu cầu và kiểm soát hành vi của trẻ ít, đồng thời sự quan tâm, yêu thương cũng ít.

Trẻ em lớn lên trong những gia đình này sẽ bị rối nhiễu về tình cảm, bất ổn về tâm lý; trẻ không kiểm soát được bản thân, trọng tâm là kiểm soát ngoài; khả năng tự kiểm soát và định hướng học tập thấp; dễ dãi trong hành vi và có khi dẫn đến phạm pháp.

Kết luận: Qua phân tích 4 mô hình giáo dục trên, cho thấy mô hình giáo dục dân chủ và nghiêm minh là tốt nhất và tiến bộ nhất. Mô hình giáo dục thờ ơ không quan tâm là mô hình giáo dục gia đình tồi tệ nhất.

  1. Một số bất cập của gia đình và giáo dục gia đình hiện nay

3.1.  Bất cập đối với gia đình

Bên cạnh những mặt tích cực trong việc xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam, việc phát triển các gia đình mới ở nước ta hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục như: Quy mô gia đình vẫn còn lớn, mức tăng dân số còn cao, đặc biệt ở nông thôn ảnh hưởng đến mức sống gia đình và gây sức ép về nhà ở, việc làm, chăm sóc y tế... Sự phân hoá giàu – nghèo giữa các gia đình có xu hướng tăng, số hộ gia đình nghèo còn nhiều đặc biệt là ở các xã ngoại thành. Mối quan hệ trong và ngoài gia đình bị giảm sút. Hiện tượng phục hồi các hủ tục và tiếp thu lối sống thực dụng, tiêu cực ngoại lai có chiều hướng phát triển. Tình trạng ly thân, ly hôn có xu hướng tăng, tình trạng trẻ em hư hỏng, tiếp thu văn hóa phẩm tiêu cực, bỏ học lang thang kiếm sống, thiếu được chăm sóc còn nhiều, người vợ, người mẹ phải gánh vác quá nhiều công việc ở cơ quan và gia đình nhưng vẫn còn bị phân biệt đối xử. Mâu thuẫn, bạo lực gia đình có xu hướng tăng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nghiên cứu của TS.Nguyễn Minh Đức cũng cho thấy: Có tới 46% số người phạm tội xuất thân trong những gia đình phức tạp, có vấn đề (đa số các gia đình này có bố, mẹ hoặc anh, chị, em là những người có tiền án, tiền sự, làm những nghề phi pháp); 18% đối tượng có hoàn cảnh gia đình bố mẹ ly hôn phải sống với anh chị, ông bà từ nhỏ; có 14% đối tượng sống trong gia đình có văn hóa ứng xử thấp (mặc dù có đầy đủ cha mẹ, vợ chồng nhưng trình độ văn hóa của bố, mẹ; vợ hoặc chồng và các anh chị em thấp, thường xử sự thiếu tôn trọng nhau, có các xung đột, cãi vã thường xuyên xảy ra trong gia đình); 7% xuất phát trong gia đình giàu có, bố mẹ, vợ hoặc chồng có lối sống buông thả, ích kỷ, sĩ diện hão hoặc nuông chiều nhau thái quá; 11% có hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn; chỉ có 4% xuất phát từ gia đình bình thường.

3.2.  Bất cập đối với giáo dục gia đình

Bố mẹ tất bật với công việc, trong cơ chế kinh tế thị trường, việc làm và thu nhập là vấn đề sống còn của mỗi gia đình, do đó, bố mẹ quá bận rộn với công việc nên không có thì giờ để chăm sóc và giáo dục con cái. Đời sống khó khăn, nghèo túng của một bộ phận người dân, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng khó khăn hoặc là những người nghèo ở thành thị dẫn đến không đủ điều kiện cho con ăn học. Mặt khác, do nhận thức và trình độ hiểu biết về giáo dục của một số người dân còn hạn chế nên không đầu tư giáo dục cho con cái, chủ yếu trông chờ vào xã hội. Cũng có những gia đình có điều kiện về kinh tế và nhận thức về tầm quan trọng giáo dục, nhưng lại quá coi trọng bằng cấp, coi trọng thu nhập sau ra trường.v.v. Cha mẹ quá kỳ vọng vào con cái, dẫn đến tạo áp lực lên con cái, làm cho con cái ngay tự nhỏ phải học tập một cách quá sức, có khi không có tuổi thơ. Cha mẹ không quan tâm đến năng lực và thiên hướng của con, ép buộc con phải chọn ngành, chọn nghề theo ý muốn của mình, như báo chí đã phản ánh: có trường hợp con chọn ngành giáo dục mầm non, mẹ đòi tự tử hoặc cha tuyên bố cắt mọi chu cấp nếu con vào học sư phạm…

  1. Nguyên nhân của một số bất cập trong giáo dục gia đình

Như đã phân tích ở trên có các nhóm gia đình có một số đặc điểm khác nhau, có điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau trong việc chăm sóc và giáo dục con cái. Nhưng phần đông gia đình Việt Nam đều gặp những bất cập trong giáo dục gia đình dù ít dù nhiều. Những bất cập trên là do những nguyên nhân sau:

  1. Ảnh hưởng của sự thay đổi của xã hội

Ngày trước kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đời sống của gia đình như gắn liền với làng mạc, ruộng vườn, thôn xóm. Con cái không chỉ chịu quy luật của gia đình mà còn chịu quy định của làng, xã. Nhưng ngày nay kinh tế và xã hội phát triển, cá nhân được tự do hơn. Xã hội ngày càng văn minh và kéo theo thay đổi nếp sống gia đình. Con cái muốn thoát ly hơn là sống với gia đình và bố mẹ cũng dần dần chấp nhận điều đó. Mới lớn lên, nhưng một số thiếu niên đã cảm thấy cuộc sống gia đình ngột ngạt, một mặt họ phải đi học nghề nghiệp, học đại học, vì vậy, một số thanh thiếu niên phải sống tự lập từ nhỏ. Đời sống ở nông thôn, nhiều vùng quê khó khăn, thiếu việc làm, thôi thúc người trẻ đi kiếm việc làm ở xa, có khi phải ra làm việc ở nước ngoài.

  1. Xung đột giữa cái mới và cái cũ

Một số các gia đình thường có sự bất đồng giữa ông bà, cha mẹ với con cái, bởi vì một số bậc phụ huynh vẫn còn thủ cựu, lễ giáo, nghiêm ngặt, trong khi con cái đã thay đổi quá xa và xu hướng tự do hơn. Do đó xảy ra xung khắc giữa bố mẹ và con cái, giữa cái cũ và cái mới mà trong đó phần đông là cha mẹ phải chịu thua con cái. Cái tốt đẹp của gia đình truyền thống, gắn kết mọi thành viên trong gia đình, mọi thành viên trong gia đình phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với… lại mâu thuẩn với kiểu gia đình hiện đại, tôn trọng sự tự do, độc lập của mỗi thành viên, cái “tôi” được coi trọng dẫn đến các thành viên có thể xa rời, không có trách nhiệm “nhà ai người nấy biết”.

  1. Việc con cái kiếm tiền quá sớm

Việc con cái có thể kiếm được tiền quá sớm, ít phụ thuộc vào gia đình, không cần sự hỗ trợ của cha mẹ đã làm cho quyền uy của cha mẹ giảm đi. Và đi tới sự bất hòa, cha mẹ nói con cái không nghe. Đồng tiền cần thiết đối với cuộc sống của mỗi người và mỗi gia đình, tuy nhiên, có khi đồng tiền cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn. Thực tế mặt trái của đồng tiền đã băng hoại giá trị đạo đức, giáo trị xã hội. Nhiều thanh thiếu niên đã có những kiểu ăn chơi trác táng rất sớm.

  1. Ảnh hưởng của tệ nạn xã hội, mặt trái của Internet

Trong điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ phát triển kéo theo nhiều điều kiện sống tốt hơn. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế thị trường đã kéo theo mặt trái của nó như cạnh tranh khốc liệt hơn, phân hóa giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp… đã gia tăng sự mất ổn định trong đời sống gia đình. Tệ nạn xã hội theo đó cũng gia tăng. Bên cạnh đó, còn có sự ảnh hưởng của Internet, phim ảnh bạo lực, văn hóa phẩm độc hại đã làm cho một bộ phận thanh thiếu niên hư hỏng, có khi dẫn đến tội phạm vị thành niên tăng lên và có xu hướng trẻ hóa. Nạn nhân của những tội phạm này có khi là người thân trong gia đình. Đã có trường hợp con giết cha, cháu giết ông bà…

  1. Giáo dục gia đình theo quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

Nghị quyết Trung ương 8, khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã thể hiện rõ quan điểm mới của Đảng về gia đình và giáo dục gia đình. Trong mục tiêu tổng quát, Nghị quyết đã khẳng định: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.”. Yêu gia đình được nhấn mạnh và đặt trước yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Giải pháp nào để giáo dục để giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ đạt hiệu quả cao nhất?. Theo chúng tôi cần phải đổi mới một cách đồng bộ, toàn diện giữa giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội.

5.1.  Đối với giáo dục gia đình:

Thứ nhất, cần nâng cao vai trò giáo dục gia đình. Sinh thời, Bác Hồ rất coi trọng giáo dục gia đình. Người cho rằng, trong giáo dục, nếu thiếu sự giáo dục gia đình hoặc giáo dục gia đình không phù hợp với yêu cầu của xã hội sẽ hạn chế nhiều kết quả giáo dục. Trong bức "Thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng" ngày 31-10-1955, Bác viết: “Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp đỡ nhà trường giáo dục và khuyến khích các em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”; Thứ hai, có thể vận dụng kinh nghiệm một số nước, áp dụng định luật “3LS”: Love (yêu thương – chăm sóc đầy đủ cho nhu cầu của trẻ); Limits (giới hạn – ngăn cấm những hành vi có hại cho trẻ) và Let’s grow up (Để trẻ lớn lên – tôn trọng tự do nhân phẩm của trẻ); Khuyến khích giáo dục gia đình theo mô hình Dân chủ - nghiêm minh (như đề cập ở trên). Cha mẹ cần biết khởi điểm từ trẻ, tức là nhìn lại con người, bản tính của chính đứa trẻ. Mỗi trẻ có một cá tính riêng và đạt đến một khả năng riêng. Vì thế giáo dục trẻ là thuật ứng biến linh động tùy theo cá tính của nó. Ngoài ra, cần tạo không khí thân yêu trong gia đình, vì đây là nhu cầu rất quan trọng của trẻ để chúng phát triển. Phụ huynh phải nêu gương tốt, đồng thời là người giải đáp các thắc mắc cho trẻ. Về kỹ luật, nên áp dụng hình thức kỷ luật tự giác, tức là để trẻ tự do hoạt động dưới sự hướng dẫn của cha mẹ. Phụ huynh còn là người bảo vệ cho trẻ, trước hết là ăn uống hợp vệ sinh, chống bệnh tật, hoặc giúp trẻ chống lại những gì nguy hiểm đến sinh mạng bằng cách ngăn cản hay trao cho chúng những kinh nghiệm tự vệ; bảo vệ con cái trước các tệ nạn xã hội, hay nghiện các trò chơi trong thế giới ảo.

5.2.  Đối với giáo dục nhà trường

Thứ nhất, tất cả nội dung chương trình, phương pháp dạy và học phải xuất phát từ lòng yêu thương đối với con trẻ. Bác Hồ đã nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”; Thứ hai, phải tôn trọng nhân cách của trẻ: giúp trẻ phát triển hài hòa và trọn vẹn tùy theo bản chất cá nhân và căn cứ trên quy luật nẩy nở tự nhiên về thể xác cũng như về tâm lý; tôn trọng cá tính và năng khiếu riêng biệt của trẻ; triệt để áp dụng kỷ luật tự giác và tránh mọi hình phạt phạm đến nhân cách của trẻ. Thứ ba, xây dựng chương trình tiểu học, THCS theo hướng tích hợp liên môn hoặc theo từng chủ điểm, nhấn mạnh chủ điểm Gia đình. Chủ điểm này phải được lặp đi, lặp lại từ lớp 1 đến lớp 5 và những năm đầu của bậc trung học, nhưng ở các mức độ khác nhau; lớp sau cao hơn, mở rộng hơn lớp trước. Những bài học, những câu chuyện kể phải mang tính giáo dục cao, học sinh thực sự xúc động và khắc ghi (sau mỗi bài học về gia đình là những câu ca dao, tục ngữ nói về tình yêu, trách nhiệm đối với gia đình để học sinh ghi nhớ và thực hành trong cuộc sống). Chủ điểm Gia đình tích hợp liên môn Tiếng Việt, Đạo đức, Giáo dục công dân. Chúng tôi đề xuất chủ điểm này như sau: Ở lớp 1, bao gồm: Ông bà, cha mẹ, anh chị em. Công ơn cha mẹ và bổn phận đối với người trong gia đình; ở lớp 2 bao gồm: cô dì, chú bác, cậu mợ. cách xưng hô, công ơn cha mẹ, ông bà, cô dì. Bổn phận đối với người trong gia tộc; ở lớp 3 bao gồm: Gia tộc, tổ tiên, họ nội, họ ngoại; anh em, chị em họ; anh em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha, mồ côi cha mẹ, tình cảm gia đình. Ở lớp 4 và lớp 5 đưa vào chủ điểm Bố mẹ và tài năng của con cái (bố mẹ là những người luôn bên cạnh các con để chia sẻ những thành công hay thất bại của trẻ), trách nhiệm gia đình với xóm, làng xã, khu phố, với cộng đồng. Ở THCS, chủ điểm Gia đình được học thông qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật và thông qua bài học của môn Giáo dục công dân; Thứ tư, đổi mới việc phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục học sinh. Hoạt động của hội cha mẹ học sinh thực sự là hiệu quả, tránh hình thức và tránh việc hội phụ huynh chỉ giúp nhà trong việc thu chi các khoản đóng góp thêm. Nên chăng, như một số nước thành lập hội phụ huynh và giáo viên để có sự phối hợp tốt hơn. Việc nhận xét học sinh cuối học kỳ và cuối năm đầy đủ hơn, hướng đến năng lực, năng khiếu của trẻ; ghi rõ những mặt mạnh, mặt yếu của từng em, chứ không chỉ chú trọng 2 lĩnh vực là học tập và hạnh kiểm. Mỗi nhà trường, mỗi giáo viên thấm nhuần lời dạy của Bác: “Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết qu ả cũng không hoàn toàn”.

5.3.  Đối với giáo dục xã hội:

Thứ nhất, thay đổi nhận thức về gia đình của xã hội: Gia đình không phải là một số nhân khẩu sống với nhau, gia đình không chỉ là một đơn vị kinh tế hay xã hội mà còn phải là những tương giao thiêng liêng của tình cảm, bổn phận và sứ mạng; Gia đình là nguồn gốc ban sơ (primitive) cho sự trưởng thành của trẻ về mọi phương diện. Đó là chỗ cho trẻ hấp thụ thực phẩm tình thương và tri thức đầu tiên của đời người; Gia đình là một học đường sống thực, một học đường không có phòng lớp nhưng trẻ sẽ học cách sống, cách cư xử với người khác, học về văn hóa, đạo đức về truyền thống của dòng họ, quê hương; Gia đình là tổ ấm, là điểm tựa cuối cùng. Khi gặp khó khăn ngoài xã hội, trẻ em cũng như người lớn lui về gia đình như môt chỗ ẩn núp sau cùng “Nơi chốn ta quay về”; Và gia đình còn mang cho trẻ một danh dự về gia tộc. Hành vi xấu, tốt của một người trong gia đình đều ảnh hưởng đến danh dự của những người khác. Thứ hai, sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật về chủ đề gia đình: Xã hội phát triển ngày càng cao, cuộc sống của trẻ em ngày nay không còn quân quẩn ở làng quê, mà khi lớn lên đi làm ăn, sinh sống khắp nơi, nhưng các em phải nhớ về nguồn cội của mình: “Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi” (Thơ Đỗ Trung Quân) hoặc “Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé. Ba mẹ là quê hương” (Phạm Trọng Cầu), những lời hát này đã có tác động rất lớn đến việc hình thành tình yêu gia đình và quê hương của mỗi người Việt Nam. Do đó, các văn nghệ sỹ cần sáng tạo những tác phẩm văn học, nghệ thuật, những bài hát hay cho thiếu nhi về gia đình. Đây chính là những món ăn tinh thần quý giá cho trẻ, để tâm hồn chúng luôn được nuôi dưỡng và lớn lên trong một xã hội đầy ắp yêu thương. Thứ ba, tăng cường trách nhiệm xã hội đối với giáo dục của nhà trường và gia đình: Liên hệ chặt chẽ với nhà trường, có trách nhiệm hỗ trợ cũng như giám sát các hoạt động của các cơ sở giáo dục trên địa bàn. Ttiếp tục vận dụng sáng tạo các định hướng xây dựng gia đình văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, là trách nhiệm chung của mỗi cá nhân, của các gia đình và của toàn xã hội. Trong đó, các kế hoạch xây dựng gia đình và giáo dục gia đình phải gắn với kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, quan tâm một cách thiết thực và toàn diện đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, bình đẳng giới…để xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc bền vững”.

6.   Kết luận

Trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của xã hội, tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp, tình trạng gia tăng tội phạm vị thành niên… giáo dục gia đình cần phải được coi trọng, là một trong những vấn đề cần đổi mới trong giai đoạn tới. Giáo dục gia đình là môi trường giáo dục đặc biệt trong việc hình thành nhân cách và phẩm chất của học sinh, là nơi nuôi dưỡng tình yêu gia đình, dòng họ và cao hơn là tình yêu đối với quê hương, đất nước và dân tộc. Cần đổi mới một cách đồng bộ theo nguyên lý giáo dục Đảng và Nhà nước ta, đó là: “Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Vấn đề giáo dục gia đình và tình yêu gia đình phải được thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc nhất trong nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015.

Tài liệu tham khảo:

  1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2011, tr.463.
  2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr.186.tr.427, tr.591.
  3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd, tr.41.
  4. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
  5. BCH TW Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” của BCH TW Đảng Khóa XI, ngày  01 tháng 11 năm 2013.
  6. Hoàng Mai Khanh (2011). Bài giảng về Giáo dục trong gia đình. Khoa Giáo dục –Trường ĐHKH XH&NV thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Ngô Minh Oanh và nhóm nghiên cứu (2012). Giáo dục phổ thông miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Kỷ yếu Hội thảo “Tổng kết nghiên cứu giáo dục phổ thông của Việt Nam và một số nước trên thế giới xây dựng chương trình giáo dục phổ thông các nước trên thế giới và Việt Nam – Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo của đổi mới giáo dục phổ thông sau 2015 của Việt Nam”. Bộ GD&ĐT, Hà Nội, tháng 11-2012.
  8. Nguyễn Vĩnh Sơn (2012). Cơ sở giáo dục nhân bản. Nhà xuất bàn Từ điển Bách khoa. TP.HCM (4-2012)
  9. Nguyễn Thiêm (2011). Gia tăng tội phạm giết người. Website Học viên Cảnh sát nhân dânhttp://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Xa-hoi/86/1300/Gia-tang-toi-pham-giet-nguoi-vi-cac-nguyen-nhan-xa-hoi.aspx
  10. Nguyễn Văn Trang (1971). Vấn đề giáo dục. Nhà xuất bản Kiến tạo. Sài gòn 1971.

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>