Góp ý đổi mới mô hình trường ĐH sư phạm trong tương lai - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 14
  • Trong tuần: 192
  • Tổng cộng: 81586
Góp ý đổi mới mô hình trường ĐH sư phạm trong tương lai


Trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam và các trường sư phạm, chúng tôi xin tóm tắt những ý kiến và tham luận trong Hội thảo "Mục tiêu đào tạo và mô hình trường đại học sư phạm Việt Nam trong giai đoạn mới" do Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 24/05/2005. Cho dù hội thảo này đã được diễn ra cách đây gần 10 năm, nhưng chúng tôi nghĩ rằng có nhiều ý kiến và quan điểm cho đến nay vẫn còn tính giá trị. Mục tiêu của bài tóm tắt này là nhằm cung cấp cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý và các nhà thực hành những ý tưởng của các nhà nghiên cứu và giáo dục về yêu cầu đổi mới vai trò và cách vận hành các trường sư phạm. Một lần nữa, chúng ta cần xem xét và đánh giá lại cách tổ chức và vận hành cũng như triết lý và mục tiêu giáo dục của các trường sư phạm.


Có thể tham khảo kỷ yếu hội thảo này tại địa chỉ trang web của Viện Nghiên cứu Giáo dục: http://www.ier.edu.vn/component/option,com_docman/task,cat_view/gid,26/dir,DESC/order,name/Itemid,138/limit,5/limitstart,15/

 

Các nội dung chủ yếu của Hội thảo:

  1. Mô hình đại học sư phạm trong tương lai đáp ứng nhu cầu đổi mới?
  2. Trường sư phạm cần bước đi đầu tiên và tiếp theo nào để đổi mới thành công?
  3. ĐHSP TP.HCM đóng góp gì cho đổi mới GDPT?

 

  1. Mô hình đại học sư phạm Tp.HCM trong tương lai
  2. Về mô hình

Các mô hình trường sư phạm trên thế giới

Mô hình A: Các trường sư phạm là một bộ phận của các trường đại học tổng hợp lớn, thí dụ như các khoa giáo dục trong các trường đại học này (Mỹ, Anh và Nhật Bản sau 1949)

Mô hình B: Các trường sư phạm được nâng cấp để trở thành các trường đại học sư phạm, hoặc các trường đại học tổng hợp địa phương trong đó các phân khoa giáo dục đóng một vai trò chủ chốt và chi phối tinh thần nói chung của các đại học này (Nhật Bản trong giai đoạn 1943-1945).

Mô hình C: Các trường sư phạm liên kết lại với nhau để trở thành các định chế có giá trị như một đại học độc lập, đồng thời hợp tác với các đại học khác trong việc huấn luyện và đào tạo các giáo viên tiểu học và trung học với một tư cách pháp nhân riêng biệt của mình (Pháp)

Mô hình D: Các trường sư phạm được nâng cấp hoặc được tích hợp lại thành các trường đại học sư phạm, những trường đại học sư phạm này được xem là những trường đại học chỉ có một mục đích duy nhất là tập trung vào việc huấn luyện chuyên nghiệp nghề dạy học (Đài Loan, Trung Quốc).

Các trường sư phạm có thể tồn tại như một phân khoa giáo dục nằm trong các trường đại học tổng hợp (như kiểu loại I) hoặc cũng có thể nâng lên thành trường đại học chỉ tập trung duy nhất vào công tác giáo dục sư phạm (như kiểu loại II). Các trường sư phạm cũng có thể đạt qui chế của các viện độc lập ngang với trường đại học, và những viện này tuy nằm trong các trường đại học tổng hợp nhưng có một mức độ tự trị cao trong việc hoạch định đường lối và phương tiện để phục vụ giáo viên và các đối tượng khác (như kiểu loại III). Các trường sư phạm cũng có thể trở thành đại học sư phạm như một trường đào tạo nghề dạy học ở bậc đại học cho những học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông (kiểu loại IV) và đào tạo sau đại học.

Trường đại học sư phạm trọng điểm Tp.HCM

Chúng ta cũng đã, đang và sẽ có mô hình đào tạo giáo viên phổ thông (GVPT) phù hợp với hệ thống GDPT hiện có nhưng khác rất nhiều với nhiều mô hình đào tạo GV của các nước có nền GD tiên tiến hơn. Chủ trương đưa các trường ĐHSP vào các ĐH đa ngành là thích hợp tương đối với nhiều mô hình đào tạo GV của nhiều nước tiên tiến, nhưng vì nhiều lý do mà các trường SP lại tách ra, quay trở lại mô hình cũ với thế hoàn toàn khép kín trong quy trình đào tạo GV, mà những bất cập, bảo thủ, trì trệ của nó đã thể hiện rõ ràng từ rất lâu và hiện nay lại thêm bất cập mới là làm cho các trường SP khó lòng hội nhập, khó lòng áp dụng các mô hình đào tạo GV tiên tiến. Việc xây dựng các ĐHSP trọng điểm với mô hình đào tạo GVPT không khác trước bao nhiêu đã bắt đầu khởi động cho thấy mô hình này còn tồn tại trong khoảng thời gian không ngắn nữa với nhiều bất cập vốn có. Việc chuyển từ mô hình này sang các mô hình đào tạo GV phổ biến và tiên tiến hơn đòi hỏi phải có thời gian vì nó đòi hỏi có sự chuyển mình, đổi mới của cả hệ thống GDPT mà trước tiên là chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước đối với GD.

Các trường ĐHSP trọng điểm còn có sứ mạng quan trọng hơn, đó là vừa đào tạo ra những GV ưu tú làm hạt nhân cho sự đổi mới GDPT,  vừa nghiên cứu giáo dục nhằm giải quyết các vấn đề xuất phát từ thực tiễn GD, đặc biệt là nghiên cứu định hướng cho chiến lược phát triển sự nghiệp GD. Thế khép kín tạo nên sự trì trệ, chậm đổi mới cả trong tư duy và thực tiễn GD-ĐT ở nhiều trường SP (nội dung, chương trình, PPDH, cách thức tổ chức đào tạo… lạc hậu) đã và đang là trở lực lớn cho nhiều cố gắng canh tân GD ở cấp độ xã hội. Các trường SP cần mạnh dạn đổi mới tư duy về GD-ĐT giáo viên, tức là làm từ đầu (như GS Hoàng Tụy và các nhà GD lão thành mới đây phát biểu (“Cần có một tư duy giáo dục mới”- Báo Tuổi trẻ 4/9/2004), đó là xác định lại một cách xác đáng mục tiêu GD-ĐT giáo viên trong bối cảnh cả trong nước và thế giới có nhiều biến động như hiện nay.

Đề án  xây dựng Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, thành Trường Đại học Sư phạm trọng điểm đã nêu mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới là:

“Xây dựng ĐHSP TP. Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm đào tạo đại học và sau đại học chuẩn mực và có chất lượng cao , trước hết là đào tạo những giáo viên nắm vững tri thức chuyên môn, có khả năng giảng dạy và học tập suốt đời, có nhân cách và những phẩm chất của người thầy giáo, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, đặc biệt đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy ở các tỉnh phía Nam; đồng thời là Trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn; có quan hệ quốc tế rộng rãi, giữ vai trò nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống các trường sư phạm. Trường đào tạo các trình độ: Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên các trường từ mầm non đến trung học và cao đẳng”.

Từ năm học 2003-2004 trường ĐHSP Tp.HCM đã thực hiện đào tạo cử nhân ngoài sư phạm với các ngành ngoại ngữ, sau 10 năm trường đã có nhiều ngành đào tạo cử nhân ngoài sư phạm. Điều đó cho thấy trường ĐHSP Tp.HCM đang phát triển theo mục tiêu: phát triển theo chiều rộng thành trường đào tạo cả cử nhân sư phạm lẫn cử nhân khoa học cơ bản.

Một số phác thảo về sứ mạng đào tạo của trừơng Đại học sư phạm Việt Nam trong giai đoạn mới:

Ø  Đào tạo sau đại học phải trở thành thế mạnh thực sự, trở thành mũi nhọn và đây là hướng đi chiến lược. Muốn cạnh tranh với các trường đại học thuộc khu vực thì bên cạnh hướng đi Didactic đã và đang làm thì hướng đi các khoa học chuyên ngành (không phải là nghiệp vụ) là vô cùng cần thiết vì nó đáp ứng cả chiều rộng và chiều sâu

Ø  Phải thực sự xác định việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng sư phạm cao cấp cho nhiều đối tượng khác nhau (giáo viên, giảng viên) là nhiệm vụ khá trọng yếu của trường sư phạm trọng điểm. Nếu không làm được việc này thì chiến lược xác lập thương hiệu sẽ rất dễ chông chênh.

Ø  Không thể không thử nghiệm những lớp Cử nhân Sư phạm tài năng trong một trường sư phạm trọng điểm (dẫu rằng để phấn đấu). Muốn như vậy, chiến lược tuyển đầu vào- công cụ thi tuyển- chương trình đào tạo- chế độ cho người học, người đào tạo... và đặc biệt là hướng đầu ra phải được hoạch định một cách nghiêm túc và dài hơi

Ø   Xác định cho ra được đâu là mũi nhọn, đâu là cơ quan gây tiếng vang cho thế mạnh “nghiệp vụ sư phạm” của nhà trường. Nếu đã xác định được thì càng phải lưu trú chính xác vùng trọng điểm để đầu tư và xây dựng

Ø   Phải nhanh chóng và kịp thời chú ý những chuyên ngành có liên quan gần với ngành sư phạm, ngành giáo dục mà đặc biệt là công tác giáo dục con người. Không thể bỏ qua các ngành vốn là thế mạnh của lực lượng nghiên cứu giáo dục như: công tác xã hội, công tác phong trào,... Đặc biệt, việc bỏ qua nhu cầu của giáo viên cấp hai, giáo viên tiểu học đang dạy nhạc họa- kỹ thuật là một thiếu sót rất đáng trách. Nghiên cứu về sư phạm, về giáo dục, không thể có chuyện chia mảng để “cát cứ” mà vấn đề quan trọng là làm sao có một cái nhìn “toàn diện” trong công tác giáo dục. Đây là cái lý dứt khoát phải cần được tôn trọng.

Ø  Không thể bỏ qua lứa tuổi trước tuổi đến trường nên chắc chắn việc nghĩ đến một trung tâm nghiên cứu về giáo dục mầm non (cả trên phương diện lý luận và ứng dụng) hoặc nghiên cứu về trẻ em trước tuổi đến trường là việc làm rất cần kíp. Đấy không phải là sự giẫm đạp lên những gì đã có.

Ø   Phải chú trọng đến việc xây dựng chiến lược đào tạo cử nhân nghiên cứu giáo dục (gốc chính là Giáo dục học) một cách bài bản dựa trên nguồn lực đã có. Sẽ thật là lãng phí nếu không sớm hoạch định chiến lược này

Ø   Nhanh chóng hoàn thiện chương trình đào tạo cả hệ chính qui và hệ tại chức cho chuyên ngành Quản lý Giáo dục (Cử nhân Khoa học) vì không thể có chuyện không có Cử nhân Quản lý Giáo dục mà lại đào tạo Thạc sĩ một cách đứt ngọn như vậy.

Ø   Phải chú ý hoàn thiện việc đào tạo bằng hai cho tất cả các chuyên khoa (dựa trên nhu cầu của xã hội đang cần). Không được quan niệm rằng chỉ có những ngành nào đang thực sự thiếu giáo viên mới chú trọng đào tạo vì nhu cầu của xã hội đang chuyển hướng học ngành sư phạm “kép” nhưng không chắc là sẽ đi dạy.

  1. Về chương trình đào tạo và thời gian đào tạo:

1-Những bất cập chính của chương trình phổ thông hiện hành

·         Nội dung của chương trình phổ thông hiện đang quá tải,

·         Chương trình phổ thông được xây dựng chủ yếu theo cách tiếp cận mục tiêu, vì vậy không đáp ứng được yêu cầu đào tạo năng lực cho người học tiếp tục phát triển

·         Cấu trúc của chương trình phổ thông lạc hậu so với phần lớn các nước trên thế giới. 

Chương trình phổ thông của nhiều nước chỉ gồm một số môn học tích hợp, phổ biến là các môn học sau:

  1. Tiếng mẹ đẻ và Văn chương
  2. Toán học
  3. Khoa học tự nhiên (Lý, Hoá, Sinh, Địa...)
  4. Khoa học xã hội - nhân văn (Sử, Địa, Kinh tế, Luật...)
  5. Ngoại ngữ (tiếng Anh và một số ngoại ngữ chính)
  6. Máy tính và Công nghệ.
  7. Giáo dục thể chất (Thể dục và Sức khỏe)

2-Những bất cập chính của chương trình đào tạo giáo viên phổ thông hiện hành

- Chương trình đào tạo giáo viên hiện hành chỉ nhằm đào tạo giáo viên dạy một môn, không có khả năng dạy tích hợp cho một số môn cùng lĩnh vực

- Chương trình đào tạo giáo viên hiện hành chú trọng kiến thức và kỹ năng, chưa coi trọng đào tạo năng lực, làm giảm khả năng phát triển nhanh của giáo viên trong thực tiễn hoạt động dạy học

3-Một giải pháp khả thi giải quyết bất cập:  nhanh chóng tổ chức đào tạo giáo viên chất lượng cao (lớp cử nhân tài năng hoặc chất lượng cao) theo chương trình mới để có khả năng dạy tích hợp một số môn học cùng lĩnh vực, làm nòng cốt cho việc đổi mới chương trình phổ thông của nước ta trong giai đoạn 2010-2020.

Ngoài ra, đào tạo giáo viên dạy tích hợp là một giải pháp hữu hiệu trong việc chuẩn bị một đội ngũ giáo viên đa năng, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho việc mở rộng qui mô tư thục, thu hẹp qui mô công lập trong công cuộc cải cách hành chính đối với giáo dục hiện nay. Các giáo viên đào tạo theo một trong các chương trình cử nhân dưới đây, có thể làm giáo viên đứng lớp cho tất cả các lớp của chương trình phổ thông, từ mẫu giáo đến lớp 12. Do đó có thể dự báo trước được hiệu quả cao của việc đào tạo giáo viên theo các chương trình này.

3 loại chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp: 1/ Chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn khoa học tự nhiên (gọi tắt là Chương trình A), 2/ Chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn ngoại ngữ, tin học và công nghệ (gọi tắt là Chương trình B) và 3/ Chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn khoa học xã hội - nhân văn (gọi tắt là Chuơng trình C)

Mục tiêu chuyên môn của chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn khoa học tự nhiên (chương trình A) là đào tạo những giáo viên có khả năng dạy các kiến thức thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như: Toán, Lý , Hoá, Sinh, Khoa học trái đất...

Mục tiêu chuyên môn của chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn ngoại ngữ, tin học và công nghệ (Chương trình B) là đào tạo những giáo viên có khả năng dạy các kiến thức thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ như: Tin học, Công nghệ Thông tin, Công nghệ Điện tử, Ngoại ngữ ....(ngoại ngữ xếp vào chương trình B vì thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ gắn liền với tin học và công nghệ thông tin)

Mục tiêu chuyên môn của chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn khoa học xã hội nhân văn (Chuơng trình C)là đào tạo những giáo viên có khả năng dạy các kiến thức thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn như: Văn, Sử, Địa lý, Kinh tế, Xã hội, Luật...

Cấu trúc của chương trình đào tạo tích hợp

Chương trình cử nhân đào tạo giáo viên dạy tích hợp là chương trình đào tạo 4 năm gồm 210 đvht. Các khối kiến thức được phân thành:

 Khối kiến thức chung: được thiết kế cho cả 3 chương trình, giống như khối kiến thức giáo dục đại học đại cương trong chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, bao gồm các kiến thức về Triết học, Kinh tế học, Lịch sử Đảng CSVN... Ngoài ra, các kiến thức chung có thể đưa vào khối này là Ngoại ngữ,  Tin học...

Khối kiến thức cơ bản của chương trình: sẽ được thiết kế riêng theo từng chương trình nhưng theo nguyên tắc cơ bản, cốt lõi, hiện đại nhằm cung cấp cho người học các kiến thức nền tảng để tiếp thu các kiến thức cơ sở trong chương trình.

Khối kiến thức cơ sở cốt lõi của chương trình: sẽ được thiết kế riêng theo từng chương trình cũng tuân theo nguyên tắc cơ bản, cốt lõi, hiện đại nhằm cung cấp cho người học các kiến thức cơ sở của các khoa học cùng lĩnh vực, để có cơ sở khoa học hoạt động giảng dạy và phát triển chuyên môn của mình sau này.

Khối kiến thức nghiệp vụ sư phạm: thông thường bao gồm các môn: Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy và học, Đo lường đánh giá trong giáo dục, các môn Phương pháp dạy bộ môn, Kiến tập và Thực hành sư phạm ... đều được thiết kế theo đặc thù riêng cho mỗi chương trình.

Nguyên tắc chung của việc thiết kế một chương trình đào tạo nên theo là: 1/ Các môn học được modul hoá thành các học phần để có thể dùng chung cho nhiều chương trình và dễ dàng tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ. 2/ Môn học nào khó tự học thì cho nhiều giờ, môn nào tự học được thì bố trí ít giờ, không lấy phân bố giờ theo khối lượng kiến thức của môn học làm chính. 3/ Thiết kế kiến thức rộng, cốt lõi, sâu vừa đủ để có tiềm năng tự học, tự phát triển.

Bên cạnh việc đào tạo giáo viên theo hướng tích hợp, cần chú trọng đào tạo năng lực sư phạm và năng lực tự học – tự đào tạo cho giáo viên để thích ứng với sự thay đổi. Các năng lực sư phạm cần thiết:

+ Nhóm năng lực dạy học: bao gồm các năng lực: Năng lực hiểu học sinh; Vốn tri thức và tầm hiểu biết; Năng lực thực hiện quá trình dạy học.

+ Nhóm năng lực giáo dục: bao gồm các năng lực: Năng lực tổ chức quá trình giáo dục; Năng lực giao tiếp SP; Năng lực “cảm hoá” HS.

Mô hình các nhóm năng lực cần thiết cho sinh viên: 

14_02_2014_nhom_nang_luc.jpg 

  1. Các bước cần thiết cần làm để đổi mới thành công
  2. Xác định lại mục tiêu đào tạo
  3. Xác định mô hình đào tạo nhà trường sẽ thực hiện trong tương lai
  4. Sau khi đã xác định mục tiêu và mô hình, cần xác định đầu ra (những kiến thức, phẩm chất, năng lực của người giáo sinh) trong giai đoạn mới.
  5. Sau đó, xây dựng chương trình phù hợp với yêu cầu của đầu ra cùng với quy trình đào tạo, quản lý chất lượng.
    1. Đóng góp cho đổi mới giáo dục phổ thông:
    2. Tham gia soạn chương trình học, biên soạn sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, đào tạo lại giáo viên phổ thông nhằm thức hiện tốt chương trình mới, đổi mới thi cử tuyển sinh viên vào trường, đổi mới cách thức đánh giá, xếp loại học tập, tăng cường kỹ năng giáo dục cho giáo viên đang làm việc trong các cơ sở giáo dục.

 

  • Chúng ta (các trường SP) thay đổi chậm hơn so với thực tế ở các trừơng phổ thông, trong khi ở các nước, PP giảng dạy ở các trường đào tạo GV là hình mẫu cho GS sau khi ra trường

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>