Một số biện pháp nâng cao chất lượng hệ VLVH ở các trường ĐH, CĐ đáp ứng yêu cầu đổi mới GD sau 2015 - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 15
  • Trong tuần: 192
  • Tổng cộng: 81586
Một số biện pháp nâng cao chất lượng hệ VLVH ở các trường ĐH, CĐ đáp ứng yêu cầu đổi mới GD sau 2015


PGS.TS Biền Văn Minh
Trường  ĐH Sư phạm - ĐH Huế

(Nguồn: Kỷ yếu hội thảo "Giải pháp đảm bảo chất lượng cho việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Giáo dục tổ chức tháng 12/2013) 

Tóm tắt: Đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng trong các trường đại học đã góp phần giảm tải cho hệ thống đào tạo chính quy. Đồng thời bồi dưỡng, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế xã hội. Để nâng cao chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại họccao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau năm 2015 là rất cần thiết nhưng không thể một sớm một chiều là có ngay kết quả. Kết quả chỉ đạt được khi thực hiện các giải pháp đồng bộ như làm tốt công tác tuyển sinh, công tác quản lý giảng dạy của GV, quản lý học tập của sinh viên, công tác quản lý kiểm tra, đánh giá, quản lý cơ sở vật chất, tài chính cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong và ngoài trường và sự nỗ lực cố gắng của người học – sinh viên hệ VLVH.

1. Mở đầu

Thực hiện chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa các loại hình đào tạo, trong những năm qua, đào tạo theo hình thức VLVH (VLVH) trình độ đại học, cao đẳng trong các trường đại học được xem là phương thức đào tạo quan trọng và cần thiết. Phương thức đào tạo này đã góp phần giảm tải cho hệ thống đào tạo chính quy. Đồng thời bồi dưỡng, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Hiện nay, chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng vẫn còn nhiều bất cập. Đây không chỉ là nỗi trăn trở của riêng ngành giáo dục mà còn của cả dư luận xã hội. Thực tế, nhìn từ góc độ khoa học quản lý, trong xu thế phát triển giáo dục hiện nay, còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu như công tác tuyển sinh, công tác quản lý giảng dạy của GV, quản lý học tập của sinh viên, công tác quản lý kiểm tra, đánh giá, quản lý cơ sở vật chất, tài chính cũng như sự phối hợp giữa các đơn vị trong và ngoài trường… và còn nhiều điều đáng bàn khác. Trong Hội thảo này chúng tôi muốn trao đổi về :”Một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại họccao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau năm 2015”

2. Thực trạng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng trong những năm qua

Trong những năm qua đào tạo đại học, cao đẳng hình thức VLVH rất phong phú như: đào tạo liên thông đại học (nâng chuẩn từ trung học sư phạm lên đại học và nâng chuẩn từ cao đẳng lên đại học), đại học bằng hai (cấp bằng đại học thứ 2 - VLVH) với hình thức tuyển thẳng và thi tuyển theo Quy định về đào tạo cấp bằng ĐH thứ 2 ban hành kèm theo Quyết định số 22/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 26/6/2001 đã cho thấy:

Một là, đào tạo theo hình thức VLVH là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và đáp ứng được nhu cầu của những người không có điều kiện học tập tập trung chính quy.

Hai là, đào tạo đại học theo hình thức VLVH đã cung cấp cho các địa phương một đội ngũ cán bộ có trình độ cao làm nòng cốt chuyên môn cho các trường học hoặc cơ sở sản xuất.

Ba là, đào tạo đại học theo hình thức VLVH là cơ hội thuận lợi giúp cho người học phát huy hết khả năng của mình để học đến một chuẩn mực kiến thức, đó là trình độ cao đẳng hay đại học. Đồng thời, giải quyết những khó khăn cho một bộ phận lớn cán bộ, giáo viên đang công tác ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa có nhu cầu được nâng cao trình độ nhưng không có điều kiện đến học tại cơ sở của các trường đại học, cao đẳng - hệ chính quy. Đây là việc làm có tính nhân bản cao.

Bốn là, đào tạo theo hình thức VLVH là nhu cầu tất yếu, là yêu cầu khách quan của mỗi trường đại học, cao đẳng góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp dạy - học hiện nay.

Tuy nhiên, công tác đào tạo đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH những năm qua vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết cần khắc phục:

Một là, chưa có một kế hoạch tổng thể về cách thức thay đổi và đa dạng hóa hình thức tuyển sinh.

Hai là, các giáo trình, tài liệu chuyên ngành, chỉ mới cung cấp thông tin mà chưa cung cấp phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho các sinh viên hệ VLVH.

Ba là, Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn ít được đổi mới, nội dung giảng dạy mang nặng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn, tính ứng dụng thấp. Hơn nữa, đội ngũ giảng viên dạy theo hình thức VLVH ít có điều kiện sâu sát người học và chương trình sách giáo khoa mới, nhiều GV còn sử dụng phương pháp cũ để dạy kiến thức mới.

Bốn là, các sinh viên chưa được quyền lựa chọn giảng viên, thiếu các thông tin về nhu cầu cần được giảng dạy như bài giảng, giáo trình và tài liệu tham khảo. Đồng thời, giáo trình, bài giảng chưa thật sát hợp, chưa thật thiết thực dành cho giáo viên đang giảng dạy tại các trường THCS, Tiểu học, Mầm non.

Năm là, việc đánh giá kết quả học tập (thi hoặc kiểm tra) còn mang tính hình thức, chưa thể hiện chính xác những kết quả mang lại từ khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên hệ VLVH.

Sáu là, công tác tổ chức, quản lý, điều hành và rút kinh nghiệm đào tạo đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH sau mỗi khóa tốt nghiệp, đầu mỗi kỳ tuyển sinh chưa được chú trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các đơn vị liên kết đào tạo không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc, chưa đồng nhất trong quản lý, điều hành nên phần nào còn hạn chế về hiệu quả tổ chức đào tạo.

3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH

Chương trình giáo dục sau năm 2015 sẽ hướng đến hình thành năng lực người học thay vì tập trung vào nội dung kiến thức như hiện nay. Làm gì để nâng cao chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, theo chúng tôi cần:

Thứ nhất: Đổi mới công tác tuyển sinh trong đào tạo đại học cao đẳng hệ VLVH, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục một cách hợp lý. Theo đó, cần coi trọng cả dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề; đặc biệt chú ý giáo dục nhận thức về Đảng, giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc, …

Thứ hai: Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước trong đào tạo đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục; Chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các trường đại học, cao đẳng trong phạm vi toàn quốc, không duy trì các trường đào tạo có chất lượng kém; Thực hiện phân cấp, tạo động lực và tính chủ động của các cơ sở giáo dục; Tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với các trường…

Thứ ba: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Phát triển đội ngũ là khâu then chốt, quyết  định sự phát triển bền vững của nhà trường. Việc xây dựng đội ngũ giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường là trách nhiệm của mọi thành viên, của từng đơn vị và nhà trường.

Thứ tư: Đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa dành cho sinh viên đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục thực hiện tốt theo quy chế 36 [3].

Thứ năm: Liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng nhân lực bằng cách thường xuyên mởi hội thảo khoa học hoặc có các thông tin để nắm được nhu cầu của các đơn vị sử dụng nhân lực trên cơ sở đó xây dựng, đổi mới chương trình đào tạo phù hợp, đáp ứng với thực tiễn.

Thứ sáu: Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng thư viện điện tử tạo điều kiện cho sinh viên học tập nghiên cứu, góp phần thay đổi từ phương pháp học thụ động sang phương pháp học chủ động của sinh viên trong đào tạo đại học, cao đẳng theo hình thức VLVH.

4. Những kỹ năng cần được bồi dưỡng cho sinh viên

Để giúp sinh viên đại học, cao đẳng đào tạo theo hình thức VLVH có thể tham gia tích cực và thực hiện thành công quá trình đổi mới chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục sau năm 2015, chúng ta không chỉ tập trung vào bốn vấn đề chính là nội dung chương trình SGK, phương pháp dạy học, sử dụng thiết bị và phương pháp kiểm tra, đánh giá mà còn phải chú trọng bồi dưỡng các kỹ năng.

Thứ nhất, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu

Tự học, tự nghiên cứu không phải là một năng lực có sẵn. Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu chỉ được hình thành và bồi dưỡng trong suốt quá trình học tập ở các bậc học và quá trình công tác thực tiễn theo các bước sau:

- Tạo động cơ nhận thức (phát hiện và nêu vấn đề) dựa vào mâu thuẫn nhận thức, nêu các vấn đề thực tế sinh học đang đòi hỏi nghiên cứu để giải quyết...

- Chỉ ra con đường nhận thức (hướng suy nghĩ để giải quyết vấn đề), cách tư duy để tự chiếm lĩnh kiến thức mới.

- Hướng dẫn nguồn tìm kiếm thông tin: tài liệu, bài giảng, giáo trình... hoặc internet.

- Chọn hình thức tổ chức nghiên cứu, xử lý nguồn thông tin thu nhận.

- Trao đổi với người cùng chuyên môn để hiểu rõ tri thức mới thu nhận.

Việc vận dụng linh hoạt các bước trên tùy thuộc khả năng của mỗi sinh viên. Biết tự học, tự nghiên cứu suốt đời là một bí quyết của thành công.

Thứ hai, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

Hiện nay việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở tất cả các bậc học, các ngành học, các môn học đã giúp thay đổi căn bản phương pháp dạy, phương pháp học, kích thích hứng thú học tập ở sinh viên, đem lại niềm say mê sáng tạo cho sinh viên... góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Thế nhưng, thật đáng tiếc, hiện nay một số sinh viên vẫn còn mù vi tính, chưa khai thác được những thông tin có sẵn trên các website, chưa vận dụng, khai thác tri thức nhân loại vào bài học. Do vậy, trong đào tạo cần dạy cho sinh viên biết và vận dụng:

- Sử dụng một số phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng (phần mềm flash để xem các đọan film, ChemSketch để vẽ dụng cụ làm thí nghiệm, Photoshop để xử lý ảnh...)

- Sử dụng máy tính để mô phỏng các thí nghiệm, các hiện tượng sinh học, vật lý, hóa học...

- Xây dựng các giáo án, bài giảng điện tử

- Xây dựng các phim video về thí nghiệm sinh học, vật lý, hóa học...

- Sử dụng máy tính trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập...

Để nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT cho sinh viên  cần tổ chức các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT trong dạy học để từ đó có thể thúc đẩy và nâng cao hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong dạy học.

Thứ ba, kỹ năng hợp tác trong dạy học

Ngày nay, hợp tác là phong cách làm việc đặc trưng của thời đại. Trong dạy học, việc tổ chức học theo nhóm đã trở nên khá phổ biến. Để giúp sinh viên làm quen và phát triển tối đa các kỹ năng học tập theo nhóm, chúng ta cần quan tâm tới kiểu hợp tác giữa giảng viên – sinh viên - cộng đồng.

Trở ngại lớn nhất cho quá trình làm việc tập thể và hợp tác trong dạy học hiện nay chính là kỹ năng giao tiếp, vốn là điểm yếu của đa số sinh viên:

- Khả năng diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ nói, viết

- Kỹ năng đặt những câu hỏi thông minh, những câu hỏi ngắn gọn có thể giúp mọi người tìm hiểu tiếp cận được bản chất của vấn đề sự việc.

- Kỹ năng lắng nghe để hiểu đúng, hiểu đủ khi nghe ý kiến của người khác.

Học hợp tác (cooperative learning) là một quan điểm học tập rất phổ biến ở các nước phát triển và đem lại hiệu quả giáo dục cao. Quy trình dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm gồm 4 bước:

- Nhập đề, giao nhiệm vụ (giới thiệu chủ đề, xác định nhiệm vụ và thành lập các nhóm)

- Làm việc của nhóm (chuẩn bị chỗ làm việc, lập kế hoạch, thỏa thuận về nguyên tắc làm việc, tiến hành giải quyết nhiệm vụ, chuẩn bị báo cáo trước nhóm)

- Trình bày và đánh giá kết quả (đại diện nhóm trình bày kết quả trước nhóm)

- Thảo luận và tổng kết (các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, thảo luận chung cả lớp, giảng viên tổng kết và đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo)[2].

Hiện nay thế giới đòi hỏi sự liên kết toàn cầu trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến sinh học như biến đổi khí hậu, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục vì sự phát triển bền vững...  Kỹ năng hợp tác cần được rèn luyện ở mỗi giáo viên. Đến lượt mình, các thầy cô giáo lại dạy cho học sinh của mình cách hợp tác trong học tập và cuộc sống.

Thứ tư, kỹ năng lắp đặt, bảo dưỡng và sử dụng các thiết bị dạy học

Thiết bị dạy học góp phần quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh. Việc sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học được coi là yếu tố quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học [1].

Để giúp giáo viên các trường, nhất là các cán bộ phụ trách thiết bị thực hiện tốt các nội dung của công tác quản lý thiết bị các môn học, biết sử dụng thiết bị dạy học tối thiểu, biết bảo quản bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ đối với một số thiết bị dạy học sinh học, vật lý, hóa học... và nâng cao trách nhiệm, tuân thủ mọi quy định trong bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học trong các năm học tới, chúng tôi đề nghị Bộ GD-ĐT quan tâm tới các khâu trong việc xây dựng thiết bị dạy học:

1. Xây dựng danh mục thiết bị cụ thể ở mỗi lớp

2. Thiết kế và sản xuất bộ mẫu thí nghiệm môn học có sự phối hợp tốt giữa các nhà nghiên cứu, nhà sản xuất và giáo viên sử dụng

3. Viết hướng dẫn từng thí nghiệm cho từng bài học và bảo quản cho từng thiết bị

4. Tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ phụ trách thiết bị quy mô khu vực hoặc từng tỉnh, cần tập hợp những người chuyên sâu về thực nghiệm, có kinh nghiệm tham gia công việc này chứ không nhất thiết phải có học hàm, học vị cao.

Thứ năm, kỹ năng hội nhập tốt

Thực tế đất nước ta đang đặt ra là phải hội nhập ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng với thế giới. Cần phải làm gì để đáp ứng yêu cầu đó? Câu trả lời không thể thiếu là các kỹ năng.

Nước ta đã gia nhập WTO và hiện đang đón nhận những thách thức lớn, những vận hôi lớn. Nó không chỉ diễn ra trong các ngành ngân hàng, thương mại... mà còn chi phối mạnh vào chính trị, xã hội và giáo dục.

Rào cản chính về khả năng hội nhập của giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên  nói riêng, đó là khả năng sử dụng ngoại ngữ. Theo kết quả một khảo sát, phần lớn sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp chưa có khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường làm việc.

Do nhu cầu học tập ngày càng tăng, trong tương lai sẽ có nhiều chương trình hợp tác - liên kết đào tạo với nước ngoài, nhưng sẽ chỉ có các chương trình chất lượng cao mới có thể tồn tại được. Một phần do người học tự lựa chọn, một phần do việc quản lý nhà nước về lĩnh vực này sẽ được tăng cường.

Thứ sáu, kỹ năng rèn luyện sức khỏe tốt

Một trong những biện pháp thư giãn tốt nhất cho những người làm việc trí tuệ là nghe nhạc Mozart. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh âm nhạc của ông vừa có tác dụng thư giãn, giảm stress, vừa kích thích sự hình thành mối liên hệ phức hợp giữa các phần của não. Khả năng trao đổi thông tin trong não nhờ vậy trở nên hiệu quả hơn và tốc độ tư duy sẽ nhanh hơn [4].

Rèn luyện cơ thể để bồi dưỡng tinh thần: Một tinh thần minh mẫn chỉ có được trong một cơ thể khỏe mạnh, một hình thức luyện tập phù hợp như Yoga, khí công dưỡng sinh, thiền... có thể mang lại hiệu quả lớn. Nguyên nhân có thể do luyện tập làm tăng lượng oxy và dưỡng chất lên não, đồng thời kích thích sản sinh một hợp chất tự nhiên là neurotrophin, vốn có tác dụng thúc đẩy các tế bào não phát triển. Vì thế, dù bận rộn hãy dành một thời gian tối thiểu trong ngày cho việc rèn luyện sức khỏe.

Chúng ta đều biết sức khỏe là quan trọng, muốn theo đuổi ước mơ ta cần phải có sức khỏe. Điều này đã đúc kết thành nguyên tắc gieo và gặt: "Muốn gặt hái được sản phẩm tốt phải có hạt giống tốt".

5. Kết luận

Đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng trong các trường đại học đã góp phần giảm tải cho hệ thống đào tạo chính quy. Đồng thời bồi dưỡng, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế xã hội.

Để nâng cao chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau năm 2015 là rất cần thiết nhưng không thể một sớm một chiều là có ngay kết quả. Kết quả chỉ đạt được khi thực hiện các giải pháp đồng bộ như làm tốt công tác tuyển sinh, công tác quản lý giảng dạy của GV, quản lý học tập của sinh viên, công tác quản lý kiểm tra, đánh giá, quản lý cơ sở vật chất, tài chính cũng như sự phối hợp giữa các đơn vị trong và ngoài trường và sự nỗ lực cố gắng của người học – sinh viên hệ VLVH.

Chúng tôi hy vọng các giải pháp đề xuất sẽ được thực thi và mang lại hiệu quả thiết thực cho việc nâng cao chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay ở nước ta.

Tài liệu tham khảo

1.         Nguyễn sỹ Đức (Chủ biên), 2009. Lắp đặt, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng các thiết bị dạy  học ở trường Trung học cơ sở, NXBGD Việt Nam.

2.         Nguyễn Thanh Hoàn, 2006. Những phẩm chất và năng lực của người giáo viên từ các cách tiếp cận khác nhau. Kỷ yếu Hội thảo 60 năm ngành Sư phạm Việt Nam, ĐHSP Hà Nội 14/10/2006.

3.         Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức VLVH (Ban hành kèm theo Quyết định số 36/2007/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 06 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

4. Sinh viên rèn luyện kỹ năng, hội nhập cùng thế giới theo  http://doanthanhnien.vn

 

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>