Một số biện pháp trong dạy học Ngữ pháp cho học sinh người Chăm tại Tp.HCM - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 17
  • Trong tuần: 193
  • Tổng cộng: 81587
Một số biện pháp trong dạy học Ngữ pháp cho học sinh người Chăm tại Tp.HCM


ThS. Lê Hoàng Giang
TT Nghiên cứu Giáo dục phổ thông - Viện Nghiên cứu Giáo dục
(Nguồn: Kỷ yếu họi thảo "Tình hình dạy học tiếng Việt cho học sinh thiểu số tại Tp.HCM" do Viện Khoa học Xã hội tổ chức tháng 08/2014) 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƯỜI CHĂM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

          Dạy học Ngữ pháp ở Tiểu học là việc làm trọng yếu dù chương trình ngữ pháp ở tiểu học chỉ ở mức độ sơ giản, tuy nhiên, đây là những kiến thức nền tảng để các em vững vàng trong việc thể hiện văn bản ở phân môn Tập Làm Văn cũng như trong khi sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, đặc biệt là học lên các cấp trên. Nhưng điều này không dễ dàng đối với việc dạy học Ngữ pháp cho học sinh tiểu học người Chăm tại thành phố Hồ chí Minh. Các em vốn đã ít sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp gia đình, giao tiếp cộng đồng nhỏ cũng nhút nhát, tự ti, lại thêm nguyên nhân nữa là vốn từ vựng ít, hiểu về từ loại tiếng Việt lại càng mơ hồ nên việc nắm chắc ngữ pháp tiếng Việt là rất khó khăn. Các em viết câu sai, câu mơ hồ, mờ nghĩa là việc thường xảy ra trong bài Làm văn. Khảo sát thực tế dạy và học tiếng Việt trong địa bàn các quận có học sinh tiểu học người Chăm theo học, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những phương pháp hữu hiệu khi dạy học ngữ pháp cho đối tượng học sinh này, nhằm giúp các em sử dụng tiếng Việt có ý thức, xem tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông cần thiết cho học tập và cuộc sống của các em sau này.

1.     Giáo viên cần hệ thống chương trình Ngữ pháp được dạy ở Tiểu học

Theo SGK và chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học, học sinh phải được học về các từ loại, danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ; những khái niệm về câu và thành phần câu, như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ; các loại câu được phân loại theo cấu trúc như câu đơn, câu ghép, phân loại theo mục đích nói năng như câu kể, câu hỏi, câu khiến, câu cảm; các đơn vị trên câu như đoạn văn, văn bản và các phép liên kết câu, đoạn. Như trên đã nói, đây là những kiến thức ngữ pháp cơ bản nhất, tinh giản nhất nhưng cũng là những đơn vị ngữ pháp cần yếu nhất mà chúng ta phải trang bị cho học sinh tiểu học.

Khảo sát nội dung, chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học từ lớp 2 đến lớp 5, chúng ta nhận thấy, chương trình Ngữ pháp được sắp xếp như sau.

1.1.         Về các khái niệm ngữ pháp

Nghiên cứu toàn bộ chương trình ngữ pháp, chúng ta thấy mục tiêu của việc dạy học các khái niệm Ngữ pháp chỉ ở mức độ nhận biết cơ bản như, với danh từ thì là về sự vật (người, vật), động từ thì hoạt động, trạng thái, tính từ thì về tính chất, đặc điểm, quan hệ từ là kết nối,… Các khái niệm như kể, hỏi, cảm,… nhận biết về đoạn văn, văn bản, …

1.1.1.  Phần từ loại

Dạy cho học sinh nhận biết về các từ loại một cách cơ bản nhất cùng với cách kết hợp đặc trưng nhất giữa chúng vào hoạt động giao tiếp. Chẳng hạn, danh từ với đặc trưng về nghĩa là chỉ người, vật (sự vật), động từ với đặc trưng về nghĩa là hoạt động và trạng thái, tính từ với đặc trưng về nghĩa là tính chất, đặc điểm, quan hệ từ với đặc trưng là nối kết, … Sự kết hợp với các từ loại khác để tạo cụm từ, câu của các từ loại trên cũng được trang bị một cách cơ bản nhất.

Lớp 2, 3: Những bài học nhận biết về danh từ chứ chưa có bài học về danh từ, nghĩa là ở lớp hai chỉ dạy nhận biết về hiện tượng, chẳng hạn như tìm những từ chỉ tên người, đồ vật… có trong câu, đoạn văn sau. Động từ và các từ loại khác cũng ở mức độ đó. (Xin xem Tiếng Việt 2, 3 các trang 26, 52, 67, 91)

Lớp 4, 5: Ở lớp 4 v 5, các khái niệm về các từ loại như, danh, động, tính, quan hệ từ, đại,… được dạy theo cấu trúc bài học quy trình chuẩn đi từ khái niệm đến khả năng kết hợp, chức năng cú pháp.

Tiếng Việt 4, tập 1, các trang, 53, 57, 93, 106, 110,…

Tiếng Việt 5, tập 1, 92, 104, 109, 121,…

1.1.2.  Phần câu và thành phần câu

Tương tự với các trình bày vè từ loại, câu và thành phần câu cũng được trình bày theo cấu trúc từ nhận biết các hiện tượng đến tìm bản chất của đối tượng. Câu và thành phần câu cũng được các tác giả SGK phân chia từ lớp 2 đến lớp 5.

Lớp 2: Các bài học về thành phần câu được trình bày dưới dạng trả lời câu hỏi: Ai? Cái gi? Con gì? Là gì? Làm gì? Thế nào? … (Xin xem TV2, T1, 45, 52, 67, 90, … )

Lớp 3: Các bài học về thành phần câu ở dạng câu hỏi: Ở đâu? Khi nào? Như thế nào? Làm sao? Vì sao? Bằng gì? (Xin xem TV3, T2, các trang 8, 26, 44, 53,..).

Lớp 4: Các bài học về thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ được trang bị kỹ hơn, đầy đủ hơn.

Bài học về chủ ngữ, vị ngữ ở Tiếng Việt 4. Tập 1, trang 171. Tập 2, trang 6, 16, 29, 36,..

Bài học về trạng ngữ ở Tiếng Việt 4, tập 2, các trang, 126, 129, 134,…

1.1.3.  Phần đoạn văn và văn bản

Những kiến thức về đoạn văn, liên kết câu, liên kết đoạn, nhận diện và viết văn bản ba phần làm nên tảng việc dạy học Phân môn Tập Làm văn (Xin xem Tiếng Việt 4, tập 2, trang 32, 52, 53; Tiếng Việt 5, tập 2, trang 72)

1.2.         Các quy tắc ngữ pháp

Ở Tiểu học, dạy các quy tắc ngữ pháp cho học sinh là dạy những cách tạo các kiểu câu, các phép liên kết câu, dấu câu, các phép liên kết đoạn (Xin xem Tiếng Việt 2, tập 1, trang 116; Tiếng Việt 3, tập 2, trang 117; Tiếng

Việt 5, tập 2, trang 71, 72).

Hệ thống chương trình sẽ giúp giáo viên sẽ rất thuận trong việc liên hệ kiến thức trong tiết dạy học ngữ pháp cụ thể cho học sinh. Đối với học sinh người Chăm, thao tác liên hệ của giáo viên sẽ nhắc nhớ cho các em các đơn vị kiến thức ngữ pháp mà các em đã quên!

2.     Về mặt Tâm lý học, giáo viên luôn tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh

Với đặc thù về cư ngụ trên địa bàn, những lớp học ở ở các trường chỉ được phân bổ số lượng học sinh Chăm ít, chỉ bằng 1/3 sĩ số của lớp. Nhưng cũng có lớp, số lượng chỉ có khoảng 7 đến 8 học sinh. Nên khi vào lớp 1, mặc dù đã được học tiếng Việt ở Vườn trẻ, các em học sinh Chăm vẫn còn thái độ e dè, nhút nhát, đặc biệt các em lại càng nhút nhát trước sự hiếu động, nhanh nhẹn của học sinh người Kinh. Chính tâm lý tự ti đó đã khiến các em rất khó gần, rất khó giao tiếp cùng bạn bè, việc phát biểu xây dựng bài, trao đổi, thảo luận, hay thậm chí trả lời câu hỏi của cô giáo trong giờ học lại càng khó khăn. Giáo viên cần nắm tâm lý này của học sinh để có cách tiếp cận nhanh chóng với các em, không để các em giữ thái độ nhút nhát trong thời gian lâu ở lớp đầu cấp. Giáo viên cần sớm cho các em hòa đồng nhau ngay từ các tháng đầu của năm lớp một. Cách “chữa” bệnh tâm lý này chính là sự chỉ đạo của cô giáo trực tiếp đứng lớp. Giáo viên không để học sinh có sự phân biệt, kỳ thị dân tộc, hãy tạo ra không khí hòa đồng ngay từ khi các em gặp nhau trong tổ chức lớp học, để các em làm bạn với nhau, nói chuyện với nhau. Quá trình giao tiếp đó là cô giáo đã gián tiếp tạo ra sẽ làm tăng vốn từ vựng trong các em gấp bội lần hiệu quả giờ dạy chính thức. Thông qua tiếp xúc, các em sẽ có thêm vốn sống, vốn văn hóa của nhau.

Như vậy, tạo tâm lý học tập thoải mái là nền tảng của hiệu quả dạy học!

 

3.     Dạy học Ngữ pháp sử dụng nguyên tắc giao tiếp khơi gợi nội hàm khái niệm dạy học

Khi đề cập đến dạy học Ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp, chúng ta thấy như không có gì mới mẻ. Nhưng vận dụng nguyên tắc này trong dạy học Ngữ pháp cho học sinh tiểu học người Chăm lại mang tính đặc thù. Nghĩa là dù dạy học tiếng Việt nói chung hay dạy học Ngữ pháp nói riêng cho bất kỳ đối tượng nào, chúng ta cũng từ quan điểm tối ưu này. Đối với học sinh tiểu học người Chăm, cảm ngữ tiếng Việt trong các em chưa có nên khi dạy học những đơn vị kiến thức ngữ pháp mang tình trừu tượng, các em rất khó tiếp nhận. Giáo viên cần miêu tả nội hàm khái niệm bằng những sự vật, hiện tượng gần gũi, quen thuộc để các em dễ nhận diện. Vấn đề này sẽ dẫn đến vấn đề thời lượng trong mỗi phần, mục của tiết dạy ngữ pháp cần được thay đổi cho phù hợp.

Chẳng hạn, khi dạy bài Động từ, Tiếng Việt 4, tập 1, chúng ta chú ý đến khái niệm động từ ở hàm nghĩa hoạt động, trạng thái.

Với nội hàm hoạt động, giáo viên cần giải thích khái niệm này bằng từ cùng hoặc gần nghĩa như chuyển động, di chuyển, bằng những động từ cụ thể, rất gần với học sinh, đó là những hoạt động mà học sinh thường làm hằng ngày, hay ngay cả trong giờ học: chạy, đi, học, đọc, mở. gấp (vở)… Đặc biệt, Để giúp học sinh hiểu kỹ hơn hàm nghĩa thứ hai là trạng thái, giáo viên cần: thứ nhất, giáo viên đưa ra những từ chỉ tâm trạng thường xảy ra trong học sinh: buồn, vui, giận, hờn,…, thứ hai, giáo viên giúp cho học sinh hiểu được nghĩa ĐỘNG trong trạng thái, những vấn đề thuộc thế giới tinh thần trong con người vốn “LẶNG”, ẩn sâu nội tâm, âm thầm trong tư duy. Phần này, chúng ta rất khó giảng cho học sinh Chăm hiểu, cho nên giáo viên cần chú ý đưa ra những dẫn liệu cơ bản, thường xảy ra, dễ nhận thấy để bài giảng hiệu quả. Cách dẫn này sẽ giúp học sinh Chăm hiểu sâu được khái niệm ĐỘNG của động từ. Hiệu quả của biện pháp này còn phụ thuộc vào sự dẫn dắt, sự diễn giải, cách đặt câu hỏi của giáo viên. Ở đây, chúng tôi không thể đưa ra mẫu giáo án bởi giáo án của tiết học mà giáo viên chuẩn bị ở nhà chỉ là phương án thứ nhất. Lên lớp, giáo viên sẽ tùy tình huống, tùy từng đối tượng học sinh cụ thể mà có “giáo án” thứ hai trên nền tảng kiến thức về nội dung dạy học và kiến thức về phương pháp dạy học của bản thân.

Như vậy, các kiểu bài học hình thành khái niệm từ loại (Danh, Tính, Đại, Quan hệ từ,..), chúng ta đều sử dụng biện pháp trên để khi vào hình thành khái niệm, học sinh sẽ dễ dàng nắm bắt, và với cách làm này, học sinh người Kinh cũng hiểu sâu thêm vấn đề cần học.

Khi dạy bài Thêm trạng ngữ cho câu ở lớp 4, cụ thể là Trạng ngữ chỉ thời gian, chúng ta chú ý cách làm cho học sinh nhận ra dễ dàng đó lầ thành phần trạng ngữ chỉ thời gian:

Giáo viên cần biết cái gốc của loại trạng ngữ này là những từ chỉ thời gian. Nên bước vào dạy thành phần phụ này cho học sinh Chăm, khác với dạy học ngữ pháp cho học sinh người Kinh, giáo viên cần chuẩn bị - đặt câu hỏi cho học sinh tìm những từ chỉ thời gian. Đây mới là cái nền để học đơn vị kiến thức này! Lúc này, những danh từ chỉ thời gian cần được nhắc tới và mở rộng: ngày, tháng,…, hồi, dạo, thuở, lúc,…

Tương tự như thế, chúng ta sẽ dùng cách này để dạy các loại trạng ngữ khác trong chương trình!

4.     Dạy học Ngữ pháp trong khi trả bài Tập làm Văn

Tập Làm Văn là phân môn tổng hợp tất cả các phân môn Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, … Nên bài Tập Làm Văn của các em sẽ hội tụ những điểm hay, điều tốt về kiến thức của các em thu lượm trong quá trình học các phân môn kể trên. Tuy nhiên Tập Làm Văn cũng là nơi lộ rõ những sai sót, nhược điểm của học sinh trong quá trình học tập kiến thức ở các phân môn của môn Tiếng Việt. Khi chấm bài Tập Làm Văn của học sinh, giáo viên cần biết xác định lỗi, phân loại lỗi và tìm ra cách chữa hay, hấp dẫn cho học sinh trong quá trình trả bài. Giáo viên không thể phê bằng những từ, cụm từ rất chung như diễn đạt (dđ), dùng từ (mà không biết dùng sai như thế nào và dùng sao cho đúng), giáo viên không phát hiện rõ lỗi dùng từ sai nghĩa, không đúng phong cách,… Hoặc phê về lỗi ngữ pháp là câu cụt, câu què (Thực tế, chả ai nói những câu sai mà câu cụt, câu què cả!) một cách mơ hồ. Lỗi ngữ pháp có rất nhiều loại lỗi, dùng sai chức năng từ loại, lỗi về dấu câu, câu thiếu chủ ngữ, thiếu vị ngữ, câu thiếu cả cụm chủ vị, … Khảo sát thực tế bài làm môn Ngữ văn của học sinh THPT, THCS, chúng tôi cũng nhận thấy cách phê này còn có đa số giáo viên Ngữ văn. Thực ra, giờ trả bài sẽ giúp học sinh có thêm lượng kiến thức thực hành văn bản rất lớn, học sinh sẽ nhận rõ ngọn nguồn của lỗi trong bài làm và học được nhiều cách sửa. Dần dần, các em sẽ hoàn thiện kiến thức thực hành văn bản, cũng như những kiến thức về Văn học. Khám bệnh mà thầy thuốc không biết xác dịnh loại hay căn bệnh ở bệnh nhân thì làm sao thầy chữa khỏi bệnh cho con bệnh được. Học sinh cũng vậy, bài làm của các em mắc nhiều lỗi những giáo viên không chỉ ra cụ thể thì các em sẽ không thể hiểu mình đã sai gì, đặc biệt, các em lại không bao giờ tiến bộ với lối phê mơ hồ kia của giáo viên. Cho nên, chúng ta rất cần thiết phải nắm chắc các loại lỗi trong thực hành văn bản và có nhiều cách chữa cho một loại lỗi, để học sinh có được nhiều cách sửa sai, rồi tiến tới sẽ viết đúng, viết hay văn bản.

Chẳng hạn, với bài làm sau của học sinh, chúng ta sẽ chấm, phân loại lỗi và đưa ra cách chữa:

Chúng tôi xin trích một đoạn trong một bài Làm văn của một học sinh lớp 5 tả về mùa xuân ở quê hương. Bài viết có đoạn: “Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm ran như bầy chim líu lo gọi mẹ”.

Đoạn văn trên, vừa đọc qua, ta thấy rất hay, bài viết hay ở chỗ, học sinh biết chọn vấn đề miêu tả, có so sánh. Thế nhưng, những cách biểu hiện ấy của các em đều mắc lỗi. Đọc đoạn văn trên, giáo viên cần phân loại lỗi như sau:

1.     Câu 1, học sinh đã nhầm chủ thể, đó là “Mùa xuân ở quê em” không thể là chủ nhân mở hội được, như vậy, “quê em” mới “mở hội”. Chúng ta sẽ đưa ra cách sửa như sau:

Cách thứ nhất: thay “ở” bằng dấu phẩy. Câu đúng sẽ là: “Mùa xuân, quê em mở rất nhiều hội”. Ở phần này, chúng ta cần cho học sinh xác định lại kiến thức ở thành phần câu (Chủ ngữ) đã học, để học sinh khắc sâu kiến thức!

Cách thứ hai: thay “mở” bằng “có”, vì chủ thể “Mùa xuân ở quê em” không là chủ thể tạo hoạt động mà là chủ thể tồn tại hoạt động. Câu đúng sẽ là: “Mùa xuân ở quê em có rất nhiều hội”. Chúng ta lưu ý cho học sinh kiến thức về “Động từ” đã học, và sự liên quan giữa chủ thể là chủ ngữ với động từ làm vị ngữ trong câu. Giáo viên có thể đưa ra thêm một số ví dụ như:

                      Cánh đồng – bát ngát

                      Con đường – thênh thang

                        Biển cả - mênh mông

                        Nhà cửa (Vườn tược) – rộng rãi, thoáng mát

……. Hoặc:

Hôm qua, BỐ đã SAI em mang ly tách đi rửa.

Hôm qua, EM đã NHỜ bố hướng dẫn em làm bài Làm văn về nhà.

Như vậy, học sinh sẽ nhận thấy được mỗi chủ thể sẽ tương ứng với hoạt động, trạng thái, tính chất… có thể, và các hoạt động, trạng thái, tính chất.. ấy mới là đặc trưng của chủ thể.        

2.                 Câu 2, Học sinh đã thiếu dấu phẩy tách trạng ngữ với cụm chủ vị. Lỗi thứ hai, học sinh đã so sánh sai đối tượng so sánh, nghĩa là giữa chủ thể so sánh và đối tượng được so sánh không tương hợp, cụ thể, so sánh “các ông các bà nói chuyện râm ran” với “bày chim líu lo gọi mẹ”.

Chúng ta sẽ hướng dẫn cho học sinh cách sửa sau:

Thứ nhất, giáo viên cho học sinh thêm dấu phẩy sau trạng ngữ. Cụ thể: “Những ngày ấy, trên đường … gọi mẹ”.

Lưu ý: Giáo viên sẽ nhắc học sinh phần kiến thức này học ở đâu, đó là phần nào, chắc chắn các em sẽ nhớ ngay đến bài học “Thêm trạng ngữ cho câu”.

Thứ hai, đây là lỗi so sánh mà chúng tôi đã phân tích ở trên đã tạo ra hiệu quả diễn đạt kém, thậm chí gây cười, đây là phần kiến thức thuộc lĩnh vực Phong cách học tiếng Việt, nhưng tiện thể, chúng tôi cũng chỉ ra cách sửa ở đây, là chúng ta hướng dẫn cách chọn vế so sánh hoặc cũng có thể đổi vế so sánh ấy bằng một cụm từ khác phù hợp. Cụ thể: “Những ngày ấy, trên đường có rất nhiều các ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ, đứng nói chuyện râm ran làm nhộn nhịp cả một vùng quê vốn yên bình tĩnh lặng”. Như vậy, việc thêm vị ngữ cho câu trên, chúng ta đã biến lỗi về phong cách thành lỗi về ngữ pháp.

Sau đó, chúng ta cho học sinh viết lại đoạn văn hoàn chỉnh!

Nếu giờ trả bài nào, giáo viên cũng thực hiện công việc đầy trách nhiệm như thế, hiệu quả dạy học tiếng Việt sẽ rất cao ở học sinh Chăm, các em sẽ rất nhanh tiến bộ trong việc sử dụng tiêng VIệt. Viết chuẩn, các em sẽ thực hiện những văn bản tiếng Việt đúng, hay. Việc dạy học tiếng Việt cho học sinh người Chăm không còn là mối lo của nhiều nhà giáo dục, của phụ huynh!

Dạy học ngữ pháp cho học sinh tiểu học người Chăm tại thành phố Hồ Chí Minh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các thầy cô giáo đang trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy. Chúng tôi nghĩ rằng, kết quả dạy học tốt sẽ phụ thuộc vào cái tâm của người dạy học. Lòng yêu nghề, yêu trẻ sẽ giúp giáo viên vượt qua tất cả những khó khăn khi giảng dạy một lớp học mà học sinh ở nhiều hoàn cảnh khác. Làm cho các em cùng sống trong ngôi nhà chung, cùng nhau học tập tiến bộ, giáo viên đã sử dụng nhiều biên pháp cách thức khác nhau. Để các em học sinh người Chăm học tốt Tiếng Việt, giáo viên cần chú ý đến, chương trình, tâm lý và các biện pháp cụ thể trong từng phân môn. Ngữ pháp tiếng Việt là một phần nhỏ trong phân môn Luyện từ và câu. Thế những phần kiến thức này là phần nền quan trọng trong dạy học tiếng Việt. Những biện pháp trên sẽ rất hữu hiệu đối với dạy học tiếng Việt cho học sinh người Chăm, giúp các em sử dụng tiếng Việt thành thạo, học tốt các môn học khác trong chương trình ở cấp Tiểu học và làm nền tảng học tốt ở các cấp cao hơn!

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.                 Cao Xuân Hạo – Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng, Những tri thức và kỹ năng tiếng Việt cần được dạy học ở nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. HCM, 2001

2.                 Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy hoc tiếng Việt, NXB Giáo dục, HN, 1996

3.                 Lê Hoàng Giang, Tâm lý học tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số, Tạp chí dạy và học Ngày nay, số 6, 2011

4.                 Lê Phương Nga – Lê Hữu Tỉnh – Nguyễn Trí, Giáo trình phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, Tập 1, 2, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 1995

5.                 Lê Phương Nga – Nguyễn Trí, Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB ĐHQG, HN, 1999

6.                 Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên). Bộ Sách Giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5, NXB Giáo dục, HN, 2006

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>