Toàn cầu hóa giáo dục ở các nước đang phát triển-Trường hợp Đài Loan - VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
<?=?>
, : : (GMT + 7)
KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7/1947 - 27/7/2017
Danh mục chính

Hội thảo - tọa đàm

Các bài khoa học

Thống kê online
  • Đang online: 13
  • Trong tuần: 256
  • Tổng cộng: 30890
Toàn cầu hóa giáo dục ở các nước đang phát triển-Trường hợp Đài Loan


ThS. Đỗ Thị Phương Anh
Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP TP.HCM 

Như chúng ta đều biết toàn cầu hóa đã tạo ra những ảnh hưởng to lớn đối với giáo dục đại học trong thập niên đầu của thế kỷ 21. Bản tuyên ngôn toàn cầu về giáo dục đại học của Liên hợp quốc khẳng định: Thế kỷ 21 “có một nhu cầu chưa từng thấy về sự đa dạng, phong phú trong giáo dục đại học cũng như những nhận thức ngày càng cao về tầm quan trọng sống còn của giáo dục đại học đối với sự phát triển kinh tế và văn hoá của xã hội”. Giáo dục nói chung trong đó có giáo dục đại học và chuyên nghiệp của thế giới đang phát triển nhanh chóng theo những xu hướng rõ rệt: đại chúng hoá, thị trường hoá, đa dạng hoá và quốc tế hoá, cùng những quan niệm mới, yêu cầu mới về vấn đề có tính sống còn đối với bất kì mô hình cải cách giáo dục nào – đó là chất lượng giáo dục. Vì thế, ngày nay, hơn bao giờ hết, tất cả các quốc gia đang đứng trước những thách thức to lớn là lựa chọn các giải pháp phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học – nơi cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bên ngoài, đã có những thay đổi chưa từng thấy ở cả bối cảnh toàn cầu lẫn quốc gia. Bên trong, các trường đại học ở những nước đang phát triển đã trải qua những nhu cầu khác nhau gây thách thức không chỉ cho nền quản trị đại học, các tổ chức, các hệ thống điều hành và quản lý đã tồn tại trước đó mà còn cho cả hoạt động học thuật. Do đó, nhu cầu cho giáo dục đại học ở các nước đang phát triển cần linh hoạt hơn nhằm đáp ứng sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa.    

Giáo dục đại học luôn là ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự chung. Nó là nơi chứa đựng và bảo vệ văn hóa, một tác nhân thay đổi trong nền văn hóa, một phương tiện cho sự phát triển kinh tế quốc gia và là một công cụ cho việc thực hiện những tham vọng chung (Rena, 2008)

Chúng ta cũng nhận ra rằng các trường đại học ở các nước đang phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra tiêu chuẩn học thuật cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Các trường này không những chịu trách nhiệm cung cấp nguồn nhân lực có chuyên môn cao nhằm hưởng lợi từ việc toàn cầu hóa mà còn đào tạo trong nước, cho lời khuyên về chính sách…

BỐI CẢNH CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Mặc dù trong những năm qua trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhưng không ai thực sự biết rằng liệu có phải trường đại học là điều kiện tiên quyết của sự phát triển kinh tế hay hệ thống các trường đại học phát triển khi nền kinh tế lớn mạnh hơn. Dù cách nào đi chăng nữa thì các quốc gia đầy tham vọng ở Châu Á đều cho rằng giáo dục đại học rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế trong tương lai của họ (Ince, 2009).     

          Họ đang mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục đại học và kết quả khá rõ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chất lượng giáo dục đại học trở thành vấn đề hàng đầu trong chương trình nghị sự của các quốc gia này. Trong bối cảnh được đánh dấu bởi sự phát triển của giáo dục đại học và toàn cầu hóa những hoạt động kinh tế, giáo dục trở thành quốc sách ở các nước đang phát triển trong phạm vi quốc tế. Để đối mặt với thực trạng này, các nước đang phát triển phải chịu áp lực để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học đạt chuẩn quốc gia và được công nhận trên thế giới. Vì vậy, nhiều nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu kỹ thuật đảm bảo chất lượng quốc gia và các nước khác cũng đang tiến hành phát triển một chiến lược thích hợp. Tuy nhiên điều này không dễ dàng vì thiếu nguồn vốn.   

ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA

Toàn cầu hóa, một thực tế ở thế kỷ 21, đã ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục đại học. Nó đã hình thành một nền kinh tế thế giới ngày càng gắn kết với nhau, công nghệ thông tin và truyền thông, sự phát triển của mạng kiến thức quốc tế, vai trò của tiếng Anh và những ảnh hưởng khác nằm ngoài sự kiểm soát của các trường đại học. Chính phủ và các trường đại học đang thực hiện chính sách và chương trình đa dạng đáp ứng quá trình toàn cầu hóa. Những chương trình điển hình này bao gồm gửi sinh viên ra nước ngoài học tập, mở chi nhánh trường ở nước ngoài hoặc liên kết với các trường bạn.

Các trường đại học luôn bị ảnh hưởng bởi những xu hướng quốc tế và ở một chừng mực nào đó, các trường này hoạt động trong cộng đồng nghiên cứu học thuật, các trường đại học và cộng đồng học giả quốc tế rộng lớn hơn. Tuy nhiên, thực tế của thế kỷ 21 đã phóng đại tầm quan trọng của bối cảnh toàn cầu.

GIÁO DỤC ĐÀI LOAN: TẦM NHÌN TOÀN CẦU

Giống như nhiều quốc gia khác ở Châu Á, Đài Loan đang trong quá trình cải cách và tự do hóa hệ thống giáo dục. Sự tự do hóa này sẽ “mang đến cho sinh viên khả năng để đối mặt với những thách thức của toàn cầu hóa và tiếp tục gia tăng sức cạnh tranh của Đài Loan trên trường quốc tế, đảm bảo cho sinh viên có những kỹ năng tư duy phân tích, kỹ năng sáng tạo và có tầm nhìn toàn cầu” (Ministry of Education (Taiwan), 2005, p.4). Giáo dục Đài Loan được đánh giá là một nền giáo dục chất lượng cao ở Châu Á. Năm 1998, Đài Loan đã chi khoảng NT$150 tỉ cho dự án cải cách giáo dục trong vòng năm năm ở tất cả các cấp độ trong hệ thống giáo dục.

Dân chủ hóa trong giáo dục ĐH đi đôi với việc khẩn trương gia tăng nguồn nhân lực có trình độ cao đặc biệt ở những nước như Đài Loan nơi có rất ít nguồn tài nguyên thiên nhiên, không chỉ dẫn đến việc tăng số lượng trường đại học mà còn làm gia tăng sự cạnh tranh giữa các trường. Vào năm 2005, chính phủ Đài Loan đã chi NT$445 – 697, 170 cho giáo dục, tức vào khoảng 18.53% tổng chi phí của chính phủ trong năm đó và số sinh viên ở các trường ĐH và CĐ Đài Loan là 938,648 (Ministry of Education (Taiwan) 2006b, 2006). Do số lượng sinh viên dao động, chính phủ cẩn trọng hơn với việc chi tiêu cho giáo dục, sinh viên và phụ huynh có nhiều thông tin hơn về chi phí và chất lượng của các lựa chọn giáo dục và do đội ngũ giảng viên cơ động hơn, các trường ĐH cũng đang cố gắng không chỉ để cạnh tranh mà đơn giản là để tồn tại.

Trước năm 1990, Đài Loan có khoảng 50 Đại học, hiện nay con số đã lên tới 144. Sự phát triển số lượng đại học này là hệ quả của sự phát triển kinh tế trong những năm 1990 khi Đài Loan trở thành một trong những nơi sản xuất lớn nhất thế giới các sản phẩm liên quan tới máy tính điện tử. Từ năm 1991 tới năm 1995, sản xuất công nghiệp nặng của Đài Loan đã tăng từ 7% tới 9% mỗi năm. Mặc dầu có bị chậm lại do cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á năm 1997 và sự sút giảm kinh tế chung hiện nay, Đài Loan vẫn còn là một trong những vùng phát triển nhất Châu Á. Theo thống kê, 38% học sinh trung học vào Đại học. Con số này làm cho Đài Loan đứng ngang hàng với một số nước ở châu Âu như Italia và Tây Ban Nha. Số lượng như thế, còn chất lượng thì sao? Ông Ovid J.L.Tzeng, người đảm nhận chức Bộ trưởng Giáo dục vào tháng 1-2003 cho biết “Vì hơn hai phần ba số đại học hiện nay là công lập và ngay cả các đại học tư cũng có nhận tiền trợ cấp của Chính phủ cho nên mỗi đại học chỉ nhận được một phần nhỏ tài trợ. Do đó chất lượng giáo dục đã bị sụt giảm”. Ông Huang, Bộ trưởng tiền nhiệm thì nói “Các đại học mới thành lập sau sao chép lại sứ mạng, chức năng, chương trình và bằng cấp của các đại học đã có trước và rồi mỗi đại học lại nhận được một phần tài trợ rất ít của Chính phủ”. Đã thế, sinh viên Đài Loan đều muốn học lên cao và độ một nửa trong số 144 trường có chương trình Tiến sĩ.

Theo thống kê của Bộ Giáo dục Đài Loan, số sinh viên nước ngoài đến Đài Loan du học tăng từ 5,440 năm 1992 lên 7,331 vào năm 2002. Để nâng cao con số này, chính phủ đang xây dựng quỹ học bổng nhằm khuyến khích các sinh viên nước ngoài đến học tại các trường đại học của Đài Loan, thành lập các chương trình cấp bằng liên kết với các trường đại học nước ngoài và khuyến khích việc phát triển các khóa học dạy bằng tiếng Anh. Trong những nỗ lực toàn cầu hóa giáo dục của Đài Loan, việc giảng dạy bằng tiếng Anh rất được chú trọng từ tiểu học đến trung học với mục đích khiến giới trẻ trở nên cạnh tranh hơn trên trường quốc tế.

Vào đầu năm 2003, Bộ Giáo dục Đài Loan đã bắt đầu xúc tiến đề án “Đại học nghiên cứu tầm cỡ thế giới”, đề xuất đưa ít nhất một trong những đại học của Đài Loan lọt vào danh sách 100 đại học quốc tế dẫn đầu trên thế giới trong vòng 10 năm tới. Các trường đại học được yêu cầu thành lập một hệ thống đánh giá sử dụng các phương pháp như SCI, SSCI và EI hoặc theo tiêu chuẩn công nhận của quốc tế về giải thưởng, thành tựu và đóng góp trong lãnh vực chuyên môn.

Vào năm 2005, Bộ Giáo dục đã chi NT$ 50 tỉ (tương đương khoảng 1.56 tỉ đô la Mỹ) cho 12 trường Đại học trong vòng 5 năm nhằm thúc đẩy khả năng nghiên cứu đạt tầm cỡ thế giới của các trường Đại học này.

Kế hoạch phát triển các Đại học và Trung tâm nghiên cứu mang tầm cỡ thế giới: mục tiêu chính của đề án này có thể được tóm tắt như sau:

1.     Trong vòng 10 năm, ít nhất một trường đại học sẽ trở thành một trong số 100 trường đại học hàng đầu thế giới. Trong vòng 15 đến 20 năm, trường đại học này sẽ trở thành 1 trong 50 trường đại học hàng đầu thế giới với một vài trung tâm nghiên cứu có tiềm năng trở thành các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới.

2.     Ít nhất có 10 lĩnh vực, khoa hoặc các trung tâm nghiên cứu trở thành những lĩnh vực hàng đầu Châu Á trong vòng 5 năm. Trong 10 năm, những trung tâm này sẽ có tiềm năng trở thành top 50 ở những lĩnh vực riêng của mình.

3.     Chất lượng nghiên cứu và phát triển của các trường đại học cũng như sự ảnh hưởng và tầm nhìn của các trường này sẽ được nâng cao trong giới học thuật quốc tế.

4.     Những cá nhân nghiên cứu và giảng dạy xuất sắc của nước ngoài sẽ được tuyển dụng để đào tạo sinh viên trong các ngành công nghiệp mũi nhọn.

5.     Sự trao đổi và hợp tác quan trọng sẽ được thiết lập giữa các tổ chức học thuật liên quốc gia.

Bằng cách củng cố việc nghiên cứu khoa học và thu hút các tài năng nước ngoài, Đài Loan hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ có ít nhất một hay hai Viện Đại học có tầm cỡ thế giới

Tin liên quan


Tài liệu nghiên cứu


<=$alt>